Thursday, March 6, 2008

Chữa tóc bạc sớm

Chữa tóc bạc sớm theo kinh nghiệm dân gian

Tóc là một tổ chức biệt hóa, một phần phụ của thượng bì nhiễm chất sừng và sắc tố da (Melanin). Nhiều người thường cho rằng, tóc bạc sớm là do máu... xấu.

Nhưng theo quan niệm của y học cổ truyền, tóc chính là phần huyết dư. Vì thế, khi cơ thể một người nào đó có tạng thận sung mãn, giúp cho tinh huyết đầy đủ thì tóc sẽ đen, bóng, lâu bạc.

Ngược lại, nếu tinh huyết không đầy đủ, thì tóc dễ gãy, dễ rụng và mau bạc.

Ngoài ra, lương y Trần Duy Linh (TP.HCM) cho biết, tình trạng tóc bạc sớm còn có thể do lao tâm. Có những người mặc dù tinh huyết đầy đủ, điều kiện dinh dưỡng đầy đủ, nhưng vì lo lắng, suy nghĩ, căng thẳng nhiều nên khiến não hoạt động quá mức, cũng làm cho tóc mau bạc. Việc suy nghĩ quá mức còn ảnh hưởng đến thận, mà thận thì sinh ra tinh tủy, tinh tủy thì thông lên não.

Do vậy, những ai nhạy bén, làm việc hiệu quả cao là những người có thận tốt. Bình thường trên 40 tuổi tóc mới bắt đầu bạc, do mất sắc tố, gốc tóc bị teo, lòng chứa các bọng khí gây tắc chân tóc, dẫn đến rụng tóc dần và bạc tóc. Màu đen của tóc là biểu hiện của sức khỏe tốt, tinh thần thoải mái, nội tiết cân bằng, cơ thể được cung cấp đầy đủ các yếu tố vi lượng như đồng, kẽm…

Tuy nhiên có nhiều người sức khỏe tốt, đang độ tuổi thanh xuân mà mái đầu đã điểm hoa râm (xuất hiện nhiều tóc bạc) y học gọi là chứng tóc bạc sớm.

Hiện nay chưa rõ nguyên nhân gây bạc tóc sớm nhưng có nhiều tác giả đề cập đến các yếu tố liên quan như di truyền (ở những gia đình có truyền thống tóc bạc từ rất sớm) hay rối loạn nội tiết (tuyến sinh dục, giáp trạng…) đồng thời cũng hay gặp những đối tượng có typ thần kinh hay xúc động, làm việc căng thẳng, hay bị stress.

Nhưng cho dù nguyên nhân gì thì chứng bạc tóc sớm cũng là một bệnh rất lành tính, không gây rối loạn cảm giác, không đau đớn, không gây biến chứng, chỉ đơn thuần ảnh hưởng đến thẩm mỹ nhất là đối với chị em phụ nữ tuổi còn trẻ nhiều khi mặc cảm tự ti sinh ra bi quan lo lắng có hại cho tâm thần kinh và sức khỏe.

Hiện chưa có thuốc và phương pháp điều trị hữu hiệu cho chứng bạc tóc sớm, chủ yếu vẫn dùng các loại vitamin nhóm B (vitamin B5), vitamin E và uống hà thủ ô thành từng đợt lâu dài, có thể mang lại kết quả ở một số trường hợp bệnh. Nếu bạc tóc khu trú do bạch biến ở đầu thì điều trị bạch biến khỏi sẽ trả lại màu đen cho tóc.

Nếu vì lý do thẩm mỹ có thì thể nhuộm tóc, tuy nhiên cần thận trọng vì phần lớn thuốc nhuộm tóc có gốc hóa học, có khả năng gây viêm da dị ứng nên phải chọn loại thuốc nhuộm bảo đảm và test trước khi nhuộm. Điều đáng lưu tâm là càng bi quan lo lắng, mất ngủ kéo dài càng làm cho quá trình bạc tóc nhanh chóng.

Ngược lại biết sinh hoạt điều độ, lối sống lành mạnh, tư tưởng thoải mái sẽ tạo điều kiện cho mái tóc xanh lâu. Tình trạng tóc bạc sớm thường do di truyền, dinh dưỡng và trạng thái tinh thần gây ra. Để chữa tóc bạc sớm, người bệnh phải dùng thuốc, đồng thời tâm trạng vui vẻ, ăn uống hợp lý cũng góp phần làm giảm nguy cơ.

Theo truyền thuyết, ngày xưa bên Trung Quốc có một người họ Hà bị tóc bạc sớm. Ông ta đã vào rừng đào một loại cây để nấu nước uống. Kết quả là tóc ông hết bạc, thấy vậy cả dòng họ ông đều dùng loại cây này và sống rất thọ, râu, tóc đen nhánh, lâu bạc. Từ đó, loại cây đó có tên là Hà thủ ô.

Bài thuốc từ Hà thủ ô:

Theo y học cổ truyền, hà thủ ô có hai loại: màu đỏ và màu trắng. Cả hai đều thuộc loại dây leo. Bộ phận thường dùng để chữa bệnh là phần củ. Ở Việt Nam, hà thủ ô đỏ mọc nhiều ở các tỉnh miền núi, Nghệ An, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang...

Còn hà thủ ô trắng thường mọc trên các đồi đất, gò cao ở các tỉnh thuộc miền Trung, miền Đông Nam Bộ...

Theo lương y Trần Duy Linh, thường người ta dùng hà thủ ô đỏ để chữa bệnh. Hà thủ ô trắng có vị đắng, khó uống, ít được dùng, đồng thời không dùng loại trắng cho người hư yếu, cơ thể hàn (lạnh).

  1. Hà thủ ô đỏ: Hà thủ ô đỏ có tác dụng bổ máu, bổ thận tăng cường chức năng nội tiết sinh dục. Uống trong thời gian dài làm đen tóc đối với người bạc tóc sớm, làm tóc đỡ khô và đỡ rụng. Ngày dùng 10-20g hà thủ ô đã chế biến, sắc uống.
  2. Ngâm hà thủ ô đỏ với đậu đen (loại hạt nhỏ) một đêm; sáng ra cho vào nồi nấu sôi độ 2 giờ, sau đó lấy hà thủ ô ra riêng đem phơi nắng. Buổi tối lại đem hà thủ ô đó tiếp tục ngâm với đậu đen (lấy đậu mới khác), rồi sáng hôm sau lại nấu như trên, và cũng vớt hà thủ ô ra phơi nắng. Cứ làm liên tiếp 9 lần như vậy - Đông y gọi là "cửu chưng cứu sái" - thì dùng hà thủ ô đó đem sao vàng; hoặc có thể sao vàng hạ thổ - sao hà thủ ô xong thì cho nó ra nền đất và lấy chảo úp lên (làm như thế để hỏa khí của lửa sẽ quân bình với âm khí của đất, giúp vị thuốc sử dụng tốt hơn).
  3. Rượu bổ Hà thủ ô:
    Nguyên liệu: Hà thủ ô (300g), Đường cát trắng (350g), Rượu trắng 35o(1,8 lít).
    Cách làm: Hà thủ ô thái nhỏ bằng ngón tay, cho vào chai có rượu và đường, đậy nút, để chỗ tối, mát khoảng một tháng rồi lấy vải lọc bỏ xác, nước đựng vào chai lọ khác.
    Cách uống: Mỗi ngày uống 30-40ml.Theo truyền đạt Ô hà, người trung Quốc tóc bạc uống rượu Hà thủ ô thì tóc đen lại như lông quạ nên đặt tên là rượu Hà thủ ô. Cũng cần biết, cách uống rượu thuốc để không dẫn đến mệt mỏi. Uống rượu thuốc mà chỉ uống một loại thì dẫn đến mệt mỏi. Vì thế thỉnh thoảng uống loại rượu bổ khác thay đổi, hoặc chế thành Cooktail uống mới tốt.
  4. Hà thủ ô đỏ chế, sinh địa, huyền sâm, mỗi vị 20g. Sắc uống ngày 1 thang, trong thời gian dài.
  5. Hà thủ ô đỏ và trắng, đã chế biến, mỗi vị 600g (cạo bỏ vỏ, tán bột, khuấy với nước, lọc lấy bột lắng ở dưới, nắm lại, phơi khô) ngưu tất 820g (tẩm rượu để một ngày, trộn với hà thủ ô và đồ với đỗ đen vào lần đồ và phơi thứ 7, 8, 9); đương quy, câu kỷ tử, thỏ ty tử, mỗi vị 320g (tẩm rượu phơi khô), bổ cốt chi 100g (trộn với vừng đen, sao cho bốc mùi thơm). Tất cả giã nhỏ, trộn đều, thêm mật ong vào làm thành viên 0,5g. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 30-50 viên. Sáng dùng rượu chiêu thuốc, trưa dùng nước gừng, tối dùng nước muối.
  6. Hà thủ ô đỏ 1.800g (thái mỏng), ngưu tất 600g (thái mỏng), đỗ đen một đấu to (đãi sạch). Cho thuốc vào chõ, một lượt thuốc, một lượt đỗ, đồ tới khi chín đỗ, rồi lấy thuốc ra phơi khô. Làm như vậy 3 lần rồi tán thành bột. Lấy thịt quả đại táo trộn với bột thuốc, làm thành viên 0,5g. Mỗi lần uống 30 viên, ngày 3 lần. Dùng rượu hâm nóng để chiêu thuốc.
  7. Vị thuốc tang thầm (quả dâu tằm chín). Dùng trái dâu tằm ngâm rượu: cứ một lớp dâu tằm, một lớp đường và ủ 20 ngày, rồi đem ngâm trong rượu nếp 40 độ trong 2 tháng. Dùng nước ngâm ra đó để dùng, mỗi ngày dùng một cốc 50 ml trước bữa ăn.
  8. Tỏi 2 nhánh, gừng tươi 5 g, giã nát; bôi lên tóc mỗi buổi tối trước khi đi ngủ. Sáng hôm sau gội thật sạch đầu bằng nước ấm, làm liên tục trong 3-4 tháng.
  9. Tim lợn kết hợp với 10 g bách tử nhân đã tán nhỏ đem hấp chín.
  10. Cà rốt 150 g, tủy lợn sống 30 g. Cà rốt rửa sạch ninh cùng với tủy lợn, ngày 2 lần.
  11. Vừng đen 300 g rang chín, hà thủ ô 300 g sấy khô hai thứ, tán mịn; đường trắng vừa đủ dùng, trộn lẫn với nhau, mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần 2-3 thìa cà phê hòa với nước sôi.
  12. Long nhãn 50 g, mộc nhĩ đen 3 g, đường phèn vừa đủ cho cả 3 thứ vào đun sôi kỹ rồi uống.
  13. Quả dâu rửa sạch, ép lấy nước, cho vào nồi (nồi đất) cô thành cao để uống.
  14. Sinh địa tươi 2kg, thiến thảo tươi 600g. Sắc lấy nước, cô thành cao, mỗi ngày uống một thìa canh với rượu. Kiêng ăn củ cải và các thức cay. Dùng trong thời gian dài, tóc sẽ đen.
  15. Để kích thích mọc tóc: Hương nhu ngày sắc đặc, hòa với dầu vừng, bôi hằng ngày.
  16. Thục địa: Lá củ sinh địa đã được chế biến, có vị ngọt, mùi thơm, tính hơi ấm. Có tác dụng dưỡng huyết, bổ thận, làm tăng chức năng nội tiết sinh dục, làm đen tóc, chữa chứng bạc tóc sớm. Ngày dùng 10-16g dạng thuốc viên, trong thời gian dài.

Ảnh hưởng của stress đến sức khỏe và chế độ ăn phòng ngừa

Các chuyên gia coi phản ứng của cơ thể với một hoàn cảnh bất kỳ bằng sự hưng phấn cảm xúc mạnh mẽ, có thể trở thành nguyên nhân gây ra trạng thái stress. Chúng ta nên biết, các cảm xúc dương tính như việc sinh con, lập gia đình mới..., cũng như cảm xúc âm tính như các tổn thương tinh thần: sự ra đi của người thân quen, bị mất việc làm, mâu thuẫn trong công việc hay gia đình, ly hôn, vấn đề con cái, khó khăn về tài chính, không thành công trong công việc..., hay tình trạng chấn thương, tình trạng ốm đau bệnh tật đều có thể gây nên trạng thái stress. Thậm chí những hoàn cảnh bình thường như tắc đường lâu, xếp hàng dài chờ mua vé tàu xe... cũng có thể gây nên stress.

Stress gây nên bởi các cảm xúc âm tính làm tổn thương cả sức khỏe thể lực và sức khỏe tinh thần. Stress trường diễn là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh khác nhau như: bệnh tim, tăng huyết áp, bệnh ở đường tiêu hóa, rối loạn cân bằng hormon, giảm sức đề kháng của cơ thể với bệnh truyền nhiễm và các rối loạn tâm thần kinh.

Các phản ứng sinh lý của trạng thái căng thẳng cảm xúc là các phản ứng của cơ thể nhằm huy động quá mức các tiềm lực của mọi chức năng. Ví dụ, trong trạng thái căng thẳng cảm xúc, nhịp tim và nhịp thở tăng lên, vã mồ hôi... thậm chí sau đó thấy mệt mỏi rã rời. Khi bị tác động của các yếu tố gây stress, cơ thể sản sinh ra số lượng lớn các hormon như adrenalin và các corticoid. Để sản xuất ra các hormon này cần phải có các vitamin nhóm D, B và các nguyên tố vi lượng như kẽm và magiê. Nếu cơ thể ở trong tình trạng stress trường diễn (kéo dài) sẽ gây nên tình trạng bị thiếu trầm trọng các chất này. Thiếu vitamin C và kẽm sẽ làm suy giảm sự tổng hợp collagen trong cơ thể, làm cho da trở lên yếu và xấu; thiếu vitamin nhóm B sẽ làm suy giảm sản sinh năng lượng cho cơ thể hoạt động, suy giảm hoạt động trí tuệ; thiếu magiê dẫn đến đau đầu, phát triển bệnh tăng huyết áp.

Như vậy, sự điều chỉnh chế độ ăn uống bằng cách bù thêm cho cơ thể những chất bị tiêu hao nhiều trong trạng thái stress (vitamin C, B, Mg, Zn) có thể trở thành một yếu tố quan trọng trong cuộc chiến với stress. Vì vậy, những người có cuộc sống căng thẳng, bận rộn... nên ăn các thức ăn có chứa các chất này.

  • Vitamin C có trong tất cả các loại rau, trái cây, đặc biệt là hành tươi, cải bắp, rau ngót, ớt ngọt, cà chua, cam, táo, chanh leo.
  • Vitamin nhóm B có nhiều trong ngũ cốc, bánh mì đen, gạo lứt, lạc, gan động vật, thịt nạc, cá, bí đỏ, đồ uống lên men.
  • Vitamin E có nhiều trong dầu thực vật, giá đỗ, mầm thóc.
  • Magiê có trong thịt nạc, sữa, kê, khoai lang, đậu nành, rau có màu sẫm, cà rốt, bưởi.
  • Kẽm có trong thịt nạc, hải sản, lòng đỏ trứng, thịt trai, thịt sò, rau ngót, tỏi ta.

Ngoài ra, trong trạng thái stress, cơ thể còn cần các chất tạo thích nghi (adaptogen) như sâm, một loại chè thảo dược, chè xanh, mạch nha... Trong một số thực phẩm có chứa chất có tác dụng giống morphin và endophine, giúp cơ thể giải tỏa trạng thái căng thẳng, sầu uất như: trong rau cần tây, cải bắp, xà lách có chứa sytophin, trong sữa có chứa cazomorphine, trong chuối có chứa serotonin, trong sôcôla có chứa andamin.

Vai trò của tập luyện thể dục thể thao thường xuyên

Tập luyện thể dục thể thao, đặc biệt là với bài tập rèn luyện sức bền (đi bộ nhanh, chạy cự ly dài, bơi, đạp xe đạp) và các trò chơi đối kháng như cầu lông, bóng bàn không những có ảnh hưởng tốt đối với thể lực nói chung, mà còn là một phương pháp hữu hiệu để trung hòa và giải tỏa các căng thẳng thần kinh – tâm lý; điều hòa các quá trình thần kinh, đốt cháy lượng hormon thừa do tuyến thượng thận tiết ra như: adrenalin, noradrenalin và các corticoid do tác động của các yếu tố stress. Tập luyện rèn sức bền, đặc biệt là chạy cự ly dài và đi bộ làm tăng cường hoạt động của hệ nội tiết, tuyến dưới đồi tăng tiết lượng hormon endorphin. Endorphin là một loại morphin nội sinh của cơ thể – một hợp chất hóa học có tác dụng giảm đau và an thần được phát hiện vào những năm 60 của thế kỷ XX. Endorphin – gồm 18 loại khác nhau, hoạt động như những mediator của não và thực hiện các chức năng khác nhau trong cơ thể; quan trọng nhất là chúng điều hòa các cảm giác đau bằng cách phong bế các tín hiệu thần kinh mà não bộ cảm nhận là đau. Chúng ảnh hưởng lên các phản ứng tâm lý của con người, loại trừ trạng thái sầu uất, sản sinh tính lạc quan và tính thỏa mãn tinh thần.

Tập luyện sức bền thường xuyên, liên tục có ảnh hưởng tốt đối với hệ thống thần kinh trung ương, có thể thay đổi cả nhân cách và trạng thái tâm thần của người tập. Các nhà tâm lý cho rằng, những người yêu thích tập luyện thể dục thể thao rèn luyện sức khỏe thường trở nên cởi mở hơn, tốt bụng và dễ gần hơn, họ thường sống tự tin và bình an, ít bị ảnh hưởng có hại của stress.

Tóm lại, trong cuộc chiến với stress, cuộc sống đòi hỏi mỗi người biết thích ứng với những tình huống thay đổi liên tục và biết điều hòa các hành vi tương ứng để kiểm soát chúng một cách hữu hiệu.

No comments: