Monday, December 1, 2008

Khoa học và thương trường: mâu thuẫn, quyền lực và liêm chính

Vietsciences- Nguyễn Văn Tuấn 18/07/2006

Những bài liên quan:

Một họa sỹ Nhật Bản bị tước giải thưởng vì “đạo” tranh
Ngụy tạo, đạo văn và tham nhũng trong nghiên cứu khoa học
Khoa học và thương trường: mâu thuẫn, quyền lực và liêm chính
Ai là Cha Đẻ cuả Ngành Nhiếp Ảnh?
Những nhà khoa học bị lãng quên trong giải Nobel

Để tiếp thị một thuốc mới, công ti dược phải chứng minh thuốc có hiệu quả trong việc điều trị bệnh qua những nghiên cứu lâm sàng với hàng trăm triệu đô-la. Những nghiên cứu lâm sàng phải được thực hiện ở các trung tâm y tế và bệnh viện, dưới sự quản lí của giới khoa học và y khoa. Bù lại, ngân sách nghiên cứu phải được công ti dược tài trợ. Trong môi trường thiếu tài trợ từ chính phủ, giới khoa học và y khoa cũng cần đến sự hỗ trợ tài chính của các công ti thuốc để trang trải và nâng cao cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học. Do đó, mối liên hệ giữa giới khoa học và các công ti dược, nói theo ngôn ngữ hợp đồng, là “đôi bên cùng có lợi”. Tuy nhiên, mối liên hệ này có khi trở nên mất cân đối khi các công ti dược lợi dụng khả năng tài chính của mình để gây áp lực cho giới khoa học, và đó chính là đầu mối của rất nhiều mâu thuẫn làm tốn biết bao giấy mực của báo chí trên thế giới.

Procter & Gamble (P&G) là một trong những công ti dược hàng đầu thế giới có tổng hành dinh đặt ở Cincinnati (bang Ohio, Mĩ). Một trong những sản phẩm quan trọng của công ti là thuốc phòng chống loãng xương có tên là Risedronate (tên ngoài thương trường là Actonel®). Nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy Risedronate có hiệu quả giảm nguy cơ gãy xương ở những phụ nữ với chứng loãng xương sau thời kì mãn kinh, nhưng cơ chế ảnh hưởng của thuốc vẫn còn là một vấn đề trong vòng tranh cãi.

Một “đại gia” khác trong kĩ nghệ dược phẩm là Merck, một công ti có lịch sử cả trăm năm, và có tổng hành dinh đặt ở New Jersey (bang Connecticut, Mĩ). Một trong những dược phẩm hàng đầu của Merck là thuốc phòng chống loãng xương có tên là Alendronate (tên ngoài thương trường là Fosamax®). Cũng giống như trường hợp của Risedronate, Alendroante là một thuốc đã được chứng minh có hiệu quả giảm nguy cơ gãy xương ở những phụ nữ với chứng loãng xương sau thời kì mãn kinh, và cũng như Risedronate, cơ chế ảnh hưởng của Alendronate vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Loãng xương không phải là một bệnh mới, nhưng nhờ sự “ưu ái” của giới truyền thông và “giúp đỡ” của các đại gia trong ngành dược, loãng xương trở nên một bệnh được nhiều người biết đến. Loãng xương là một bệnh khá phổ biến ở các phụ nữ sau thời kì mãn kinh, nhất là ở các nước Tây phương. Theo nhiều ước tính, có đến gần 1 phần 5 phụ nữ sau mãn kinh và 10% đàn ông trên 50 tuổi bị chứng loãng xương. Tuổi thọ của người dân trên thế giới càng ngày càng gia tăng, và do đó, số phụ nữ sau thời kì mãn kinh cũng như số đàn ông cao tuổi càng ngày càng tăng nhanh chóng trong dân số, và đó là một thị trường rất lớn (nhiều tỉ đô-la) cho các công ti dược trên thế giới.

Vì cả hai thuốc Alendronate và Risedronate đều sử dụng cho việc điều trị loãng xương, cho nên hai đại gia P&G và Merck trở nên hai “đối thủ” cạnh tranh quyết liệt trong thị trường loãng xương. Cả hai công ti tiêu ra khá nhiều tiền để làm nghiên cứu nhằm một mặt tìm hiểu cơ chế ảnh hưởng của thuốc, mặt khác nhằm “chứng minh” thuốc của công ti mình có hiệu quả cao hơn thuốc của công ti kia.

Trong nghiên cứu loãng xương có 3 tiêu chí để đánh giá hiệu quả của một thuốc: tỉ lệ gãy xương, mật độ chất khoáng trong xương, và quá trình chuyển hóa xương. Trong ba tiêu chí này, tỉ lệ gãy xương là quan trọng nhất, có ý nghĩa nhất, còn hai tiêu chí kia thường được xem là ảnh hưởng phụ. Một số nghiên cứu lâm sàng cho thấy nếu lấy tỉ lệ gãy xương làm tiêu chí thì hai thuốc này có hiệu quả tương đương nhau. Tuy nhiên, nếu lấy tỉ lệ tăng mật độ chất khoáng trong xương làm tiêu chí thì Risedronate có hiệu quả thấp hơn so với thuốc Alendronate của Merck, và các chuyên gia thị trường của Merck dựa vào sự thật này để “tuyên truyền” rằng thuốc của họ có hiệu quả cao hơn Risedronate.

P&G đâu thể khoanh tay để Merck “tấn công” như thế! Họ quyết định nghiên cứu các chỉ số sinh hóa về chuyển hóa xương để “chứng minh” rằng Risedronate có ảnh hưởng tốt hơn so với Alendronate. Tưởng cần nhắc lại rằng xương là một tế bào năng động, với hai nhóm tế bào tạo xương và hủy xương “cạnh tranh” nhau từng giây phút trong cơ thể chúng ta. Trong độ tuổi dậy thì và trưởng thành các tế bào tạo xương hoạt động mạnh hơn các tế bào hủy xương, cho nên xương tăng trưởng nhanh. Nhưng đến thời kì sau mãn kinh, vì sự suy giảm của hormone nữ, các tế bào hủy xương trở nên hoạt động mạnh hơn tế bào tạo xương, và do đó dẫn đến tình trạng mất chất khoáng trong xương. Do đó các thuật điều trị chống loãng xương thường nhắm vào một trong hai cơ chế này: hoặc là tăng khả năng tạo xương, hoặc là chống hủy xương. Cả hai thuốc Risedronate và Alendronate được thiết kế với chức năng chống lại các tế bào hủy xương (còn gọi là anti-resorptive therapies). Do đó, một trong những chiến lược nghiên cứu để giải thích hiệu quả của hai thuốc này là phân tích quá trình chuyển hóa xương.

Richard Eastell

Aubrey Blumsohn

Để làm nghiên cứu đó, năm 2002, P&G kí hợp đồng với giáo sư Richard Eastell và cộng sự của ông thuộc Đại học Sheffield (Anh) để nghiên cứu về cơ chế ảnh hưởng của thuốc Risedronate. Giáo sư Eastell đứng đầu một nhóm nghiên cứu loãng xương có uy tín cao trên thế giới, và cũng là khoa trưởng phụ trách nghiên cứu khoa học của trường Đại học Sheffield. Giáo sư Eastell được thế giới biết đến như là một chuyên gia về chu trình chuyển hóa xương (bone remodelling). Thực ra, người thực sự tiến hành các nghiên cứu về chuyển hóa xương là Tiến sĩ Aubrey Blumsohn (giáo sư Eastell chỉ là người đứng tên chủ trì). Tiến sĩ Blumsohn cũng là một chuyên gia có tiếng trong nghiên cứu loãng xương.

Trong thời gian 2002 đến 2003, Tiến sĩ Blumsohn phân tích hàng ngàn mẫu máu từ bệnh nhân loãng xương. Đối với Tiến sĩ Blumsohn và giáo sư Eastell, họ cần phải công bố công trình nghiên cứu đó dưới dạng các bài báo khoa học. Việc công bố kết quả không chỉ do áp lực từ Đại học Sheffield mà còn do áp lực từ đồng nghiệp trong ngành loãng xương. Nhưng để có bài báo khoa học, họ cần phải phân tích số liệu để biết kết quả ra sao.

Tuy nhiên, theo hợp đồng, cả Blumsohn và Eastell chỉ cung cấp số liệu cho P&G mà không được phép phân tích các số liệu đó! P&G dành quyền phân tích số liệu vì họ lí giải rằng họ có một nhóm chuyên gia có kinh nghiệm cao về thống kê học và có thể đảm nhận việc này. (Trong thực tế, các công ti dược thường có hàng trăm chuyên gia về thống kê, chuyên thiết kế thí nghiệm và phân tích số liệu cho hàng ngàn nghiên cứu của công ti). Các chuyên gia thống kê của P&G tiến hành phân tích số liệu, và ban giám đốc P&G mướn một chuyên gia khác viết bài báo khoa học dựa vào kết quả phân tích đó. Trong giới khoa học, những người này còn có tên là ghost author – tác giả ma.

P&G gửi bài báo khoa học đó cho giáo sư Eastell và đề nghị Eastell đứng tên tác giả (còn các tác giả ma thì hoàn toàn … vắng mặt). Nói tóm lại, P&G vừa phân tích, vừa soạn thảo bài báo (với những bình luận tất nhiên là có lợi cho P&G), nhưng họ không ra mặt, mà chỉ để cho Eastell đứng tên! Điều đáng chú ý là họ không đề tên của Tiến sĩ Blumsohn trong bài báo, dù ông chính là người trực tiếp tiến hành các phân tích sinh hóa!

Bài báo được giáo sư Eastell gừi cho Tập san khoa học nổi tiếng, Journal of Bone and Mineral Research (JBMR), để được bình duyệt và công bố. Cũng như các tập san khoa học khác, JBMR có chính sách yêu cầu tác giả bài báo phải tuyên bố (bằng chữ) rõ ràng rằng “Chúng tôi, các tác giả, tuyên bố rằng chúng tôi đã xem qua số liệu và số liệu do chúng tôi quản lí.” Giáo sư Eastell kí tên vào bảng tuyên bố đó, dù như đề cập trên, ông không hề phân tích số liệu và cũng chẳng có quản lí số liệu!

Bài báo qua bình duyệt được chấp nhận cho công bố trên Tập san JBMR vào năm 2003. Kết quả này cho thấy thuốc Risedronate có hiệu quả ngăn chận các tế bào hủy xương và mức độ ảnh hưởng tương đương hoặc thậm chí cao hơn thuốc Alendronate. Kết quả này được P&G sử dụng trong các chiến dịch tiếp thị thuốc Risedronate khắp thế giới, kể cả Việt Nam.

Nhưng sau khi bài báo được công bố trên JBMR, có một số chuyên gia độc lập đặt nghi vấn về luận án của bài báo, đặc biệt là luận án “ngưỡng ảnh hưởng” (threshold effect) mà tác giả nhấn mạnh trên một biểu đồ trong bài báo. Trong nhiều hội nghị, Giáo sư Eastell bị chất vấn về biểu đồ này, và ông rất lúng túng trong trả lời, vì ông không phải là người làm phân tích số liệu nên không dám khẳng định gì dứt khoát và cũng không giải thích được một cách thỏa đáng.

Mặt khác, Tiến sĩ Blumsohn viết thư cho Tập san JBMR tố cáo sự thật rằng Giáo sư Eastell chưa bao giờ nhìn thấy số liệu, không có phân tích số liệu. (Nói cách khác, Tiến sĩ Blumsohn tố cáo Giáo sư Eastell thiếu thành thật với JBMR). Tiến sĩ Blumsohn cũng đặt nghi vấn biểu đồ về ngưỡng ảnh hưởng là sai, và cho rằng P&G đã phân tích số liệu thiếu trung thực chỉ nhằm mục đích thương mại, chứ không nhằm mục đích khoa học hay nói lên sự thật. Tiến sĩ Blumsohn còn tố cáo P&G là đã không cho ông cơ hội phân tích số liệu. P&G cho rằng họ đã cho Tiến sĩ Blumsohn cơ hội xem xét số liệu trong một chuyến ông sang công tác ở Cincinnati (tổng hành dinh của P&G). P&G cho rằng họ đã phân tích số liệu đúng phương pháp.

Trước nghi vấn về số liệu và nghi ngờ của đồng nghiệp, Tập san JBMR mở cuộc điều tra, và yêu cầu Tiến sĩ Blumsohn cung cấp thêm bằng chứng. Nhưng thay vì hợp tác với JBMR để giải quyết vấn đề, Tiến sĩ Tiến sĩ Blumsohn tố cáo sự việc với báo chí khắp thế giới rằng Đại học Sheffield đã để cho đồng tiền của P&G chi phối đến sự độc lập của trường. Hầu hết các tờ báo lớn trên thế giới như New York Times, the Guardian, The Independent, The Economist, The Times, v.v… đều đăng chi tiết tố cáo của Tiến sĩ Blumsohn. Quốc hội Anh cũng quan tâm đến sự việc vì vấn đề có thể ảnh hưởng đến sự độc lập của các trường Đại học danh tiếng mà Anh rất tự hào.

Trước tai tiếng như thế, Giáo sư Eastell từ chức khoa trưởng nghiên cứu. Đại học Sheffield sa thải Tiến sĩ Blumsohn vì họ cho rằng ông đã không làm theo thủ tục của trường khi nêu vấn đề. Nhưng Đại học Sheffield lại đề nghị trả cho Tiến sĩ Blumsohn một số tiền khá lớn với điều kiện ông phải ngưng tố cáo với báo chí. Tiến sĩ Blumsohn chẳng những không đồng ý với đề nghị mà còn công bố luôn lá thư của Đại học Sheffield trên internet, và được giới khoa bảng thế giới ủng hộ! Cho đến nay, sự việc vẫn chưa đến hồi kết thúc, nhưng qua đó, nhiều câu hỏi đặt ra về đạo đức khoa học và mâu thuẫn giữa giới khoa học và các công ti dược.

Trong nghiên cứu khoa học, Ủy ban tổng biên tập các tập san y học (International Committee of Medical Journal Editors – ICMJE) đề ra 3 tiêu chuẩn cho một tác giả bài báo khoa học. Theo định nghĩa của ICMJE, một thành viên nghiên cứu có tư cách đứng tên tác giả phải hội đủ tất cả 3 tiêu chuẩn sau đây: Một là đã có đóng góp quan trọng trong việc hình thành ý tưởng và phương pháp nghiên cứu, hay thu thập dữ kiện, hay phân tích và diễn dịch dữ kiện; Hai là đã soạn thảo bài báo hay kiểm tra nội dung tri thức của bài báo một cách nghiêm túc; và ba là phê chuẩn bản thảo sau cùng để gửi cho tập san. Việc đứng tên tác giả một bài báo khoa học mà không có truy cập số liệu hay không có vai trò trong phân tích số liệu được xem là một hành vi thiếu thành thật tri thức (intellectual dishonesty). Trong trường hợp trên, thậm chí các tác giả trong bài báo cũng không phải là người soạn thảo bài báo, thì vấn đề càng nghiêm trọng hơn nữa.

Khoa học hiện đại là một ngành nghề rộng lớn, có định hướng rõ ràng, với nhiều đầu tư về tài lực. Các thế lực đằng sau khoa học là chính phủ và các công ti kĩ nghệ lớn. Hai thế lực này cung cấp tiền bạc cho hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học, và là nguồn nuôi sống cho các nhà khoa học. Trong y học, một phần lớn nghiên cứu khoa học tập trung vào việc sản xuất và thử nghiệm những thuốc mới, và phần lớn các nghiên cứu này do các công ti dược tài trợ. Theo một thống kê mới đây, gần 80% ngân sách nghiên cứu lâm sàng được tài trợ từ các công ti dược. Với số tiền khổng lồ này, các công ti dược đã trở thành một thế lực quan trọng có ảnh hưởng đến định hướng nghiên cứu y học trên thế giới.

Nhưng ngay cả các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học không nằm trong y khoa cũng có thể chịu ảnh hưởng, bởi vì định hướng nghiên cứu đã được các công ti dược đề ra. Một số lớn các nghiên cứu y học được tiến hành trong cơ cấu quyền lực này. Trong cơ cấu này các tiêu chuẩn khoa học liên tục bị sửa đổi. Các tiêu chuẩn này không phải được đúc kết từ sách giáo khoa hay theo chỉ dạy của một nhà khoa học danh tiếng nào, mà là những thích nghi với môi trường thực tế. Sự thích nghi này có thể ảnh hưởng đến việc chăm sóc bệnh nhân, bởi vì nghiên cứu y học nhằm mục đích tối thượng là đem lại lợi ích sức khỏe cho cộng đồng và nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

Trung thực và liêm chính là những đặc tính số một trong nghiên cứu khoa học, và công bố bài báo khoa học cũng như giảng dạy là raisons d'être, là lí do để tồn tại của nhà khoa học. Hơn 20 năm về trước, Al Gore, lúc đó còn là một thượng nghị sĩ (và sau này là phó tổng thống Mĩ) chủ trì một cuộc điều trần về gian lận trong khoa học, nhận xét: “Nền tảng của nghiên cứu khoa học dựa vào sự tín nhiệm của quần chúng và liêm chính trong hoạt động khoa học.” Câu phát biểu này có tính phổ quát, và có thể thích hợp cho bất cứ hoạt động nghiên cứu khoa học tại bất cứ nước nào, kể cả Việt Nam. Khoa học là một ngành nghề được xây dựng và tồn tại dựa trên tinh thần chân thực và liêm chính. Vì thế, khoa học không thể nào dung túng tình trạng thiếu trung thực.

Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số tháng 7/2006

No comments: