| Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước http://www.ssc.gov.vn/ssc/Default.aspx?tabid=87 |
| |
| Đây là trang Web chính thức của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước, thuộc Bộ Tài Chính. Trang Web cung cấp rất nhiều thông tin, từ các kiến thức chứng khoán, các bản tin mới nhất, các thông tin giao dịch, thị trường, biểu đồ chỉ số VnIndex, chính sách mới... Đặc biệt bạn có thể tham khảo một cách chính xác và đáng tin cậy các văn bản pháp quy trong lĩnh vực này. Ngoài ra, trang Web còn cung cấp thông tin về đấu giá, đấu thầu cũng như bảng đấu thầu trái phiếu trực tuyến. |
| Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh http://www.vse.org.vn/ |
| |
| Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TPHCM (STC) là một trong hai trung tâm giao dịch chứng khoán trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức, quản lý, điều hành và giám sát các giao dịch chứng khoán tại Trung tâm. Bạn có thể tiến hành tra cứu chứng khoán, tìm kiếm các thông tin giao dịch, thống kê, đấu giá trên trang Web này. |
| Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HSTC) http://www.hastc.org.vn/ |
| Ngoài các thông tin chung, trang Web còn cung cấp các thông tin về Giao dịch chứng khoán (Kết quả giao dịch, Quy mô giao dịch, Chỉ số thị trường). Phần ấn phẩm giới thiệu Bản tin chứng khoán, tờ rơi và các ấn phẩm khác. |
| Bảng chứng khoán điện tử trực tuyến http://vnexpress.net/user/chung-khoan/ |
| Không cần phải đến trung tâm, bạn có thể ngồi nhà trước máy vi tính và xem bảng chứng khoán điện tử thay đổi theo từng phút. Các thông tin được cập nhật liên tục với các dấu hiệu và chỉ số màu sắc tương tự như trên bảng điện tại các trung tâm. |
| Công ty chứng khoán ngân hàng ngoại thương http://www.vcbs.com.vn/ |
| |
| Không có thời gian đến trung tâm giao dịch, bạn có thể đăng ký một tài khoản tại Ngân hàng ngoại thương. Sau đó, mỗi khi cần giao dịch, bạn có thể tham khảo các bảng giá trực tuyến rồi tiến hành giao dịch trực tuyến. Ngoài VCB, còn một số ngân hàng khác cũng hỗ trợ các giao dịch tương tự. |
| Diễn đàn chứng khoán VietStock http://forum.vietstock.com.vn/forums/default.aspx |
| Bạn có những thắc mắc không biết hỏi ai về thị trường chứng khoán? Bạn có nhiều kinh nghiệm về mua bán cổ phiếu và muốn chia sẻ với mọi người? Diễn đàn VietStock được quảng cáo là nơi trao đổi và chia sẻ mọi thứ liên quan đến chứng khoán. |
| Wikipedia http://vi.wikipedia.org/wiki/Sàn_giao_dịch_chứng_khoán |
Friday, January 18, 2008
Chứng khoán trực tuyến
Thursday, January 17, 2008
Kiến thức CK - P18: Sử dụng các hệ số để phân tích
| |||||
| KTCK (P18: Sử dụng các hệ số để phân tích) 11/08/2007 06:06 pm Mỗi hệ số đề cập ở các bài trước chỉ cung cấp một số thông tin về mức độ hiệu quả trong hoạt động của một công ty. Tuy nhiên, như các bạn biết, việc phân tích tài chính đặc biệt có ý nghĩa khi bạn có một số chuẩn mực để có thể so sánh với các hệ số của một công ty, bạn không chỉ muốn xem khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, tình trạng nợ và các mối liên hệ hoạt động của một sông ty là cao hay thấp, và các yếu tố này đang được cải thiện hay xấu đi, mà bạn còn muốn xác định mức độ hiệu quả hoạt động của công ty đó so với các đối thủ cạnh tranh khác, so với ngành hay so với công ty hoạt động tốt nhất cùng ngành. |
Kiến thức CK - P17: Các hệ số về khả năng sinh lời
11/08/2007 06:03 pm
Nếu tỷ lệ lợi nhận của một công ty tụt xuống dưới mức có thể chấp nhận được, thì P/E (giá trên thu nhập) và giá trị các cổ phiếu của công ty giảm xuống - điều đó giải thích tại sao việc đánh giá khả năng sinh lời lại đặc biệt quan trọng đối với một công ty.
1. Hệ số tổng lợi nhuận.
Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng nguyên liệu và lao động trong quy trình sản xuất của ban quản lý một công ty.
Doanh số - Trị giá hàng bán tính theo giá mua
Hệ số tổng lợi nhuận = --------------------
Ví dụ: Hệ số tổng lợi nhuận
Nếu một công ty có doanh số bán là 1.000.000 USD và giá trị hàng bán tính theo giá mua lên tới 600.000 USD, thì hệ số tổng lợi nhuận của công ty sẽ là:
$1.000.000 - $600.000
Hệ số tổng lợi nhuận = ------------
$1.000.000
Khi chi phí lao động và chi phí nguyên vật liệu tăng nhanh, hệ số tổng lợi nhuận chắc chắn sẽ giảm xuống, trừ khi công ty có thể chuyển các chi phí này cho khách hàng của mình dưới hình thức nâng giá bán sản phẩm. Một cách để tìm xem các chi phí này có quá cao không là so sánh hệ số tổng lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty tương đồng. Nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì công ty cần phải thực hiện một biện pháp nào đó để có được sự kiểm soát tốt hơn đối với chi phí lao động và nguyên liệu.
Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết Ban quản lý của một công ty đã thành công đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của công ty.
EBIT
Mức lãi hoạt động = --------------------
Doanh thu
Tử số của hệ số này là thu nhập trước thuế và lãi hay chính là thu nhập tính được sau khi lấy doanh thu trừ trị giá hàng bán đã tính theo giá mua và các chi phí hoạt động (EBIT).
Ví dụ: Hệ số lợi nhuận hoạt động
Nếu EBIT lên tới 200.000 USD trong khi doanh thu là 1.000.000 USD thì mức lãi hoạt động là:
$200.000
Hệ số lợi nhuận hoạt động = -------------------
$1.000.000
Hệ số này là một thước đo đơn giản nhằm xác định đoàn bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một Đô la doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu EBIT. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động. Các nhà quản lý cần phải tìm ra các nguyên nhân khiến hệ số lợi nhuận hoạt động cao hay thấp để từ đó họ có thể xác định xem công ty hoạt động có hiệu quả hay không, hoặc xem giá bán sản phẩm đã tăng nhanh hơn hay chậm hơn chi phí vốn.
3.Hệ số lợi nhuận ròng
Hệ số lợi nhuận ròng là hệ số từ mọi giai đoạn kinh doanh. Nói cách khác đây, là tỷ số so sánh lợi nhuận ròng với doanh số bán.
Lợi nhuận ròng
Mức lãi ròng= ------------------
Doanh số
Ví dụ: hệ số lợi nhuận ròng
Nếu lợi nhuận sau thuế của một công ty là 100.000 USD và doanh thu của nó là 1.000.000 USD.
100.000 USD
Hệ số lợi nhuận ròng =---------------------- = 10%
1.000.000 USD
Một số công ty có mức lợi nhuận ròng hơn 20%, và một số khác có chỉ đạt khoảng từ 3% đến 5%. Hệ số lợi nhuận ròng giữa các ngành khác nhau là khác nhau. Thông thường, các công ty được quản lý tốt đạt được mức lợi nhuận ròng tương đối cao hơn vì các công ty này quản lý các nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn. Xét từ góc độ nhà đầu tư, một công ty sẽ ở vào tình trạng thuận lợi sẽ có mức lợi nhuận ròng cao hơn lợi nhuận ròng trung bình của ngành và nếu có thể, có mức lợi nhuận liên tục tăng. Ngoài ra, một công ty càng giảm chi phí của mình một cách hiệu quả- ở bất kỳ doanh số nào thì mức lợi nhuận ròng của nó càng cao
4.Hệ số thu nhập trên cổ phần.
Hệ số thu nhập trên cổ phần (ROE) là thước đo tỷ suất lợi nhuận của các cổ đông. Nhà phân tích chứng khoán, cũng như các cổ đông, đặc biệt quan tâm đến hệ số này.
Nói chung hệ số thu nhập trên cổ phần càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn. Hệ số này là một cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi so sánh với hệ số thu nhập trên cổ phần của các cổ phiếu khác. Hệ số này có thể được tính như sau:
Lợi nhuận ròng sau thuế
ROE=-------------------------------------------------------
Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình
5. Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI)
Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI) được công ty Du Pont phát triển cho mục đích sử dụng riêng, nhưng ngày nay nó được rất nhiều công ty lớn sử dụng như là một cách thức tiện lợi để xác định tổng thể các ảnh hưởng của các biên lợi nhuận doanh thu tổng tài sản.
Thu nhập ròng Doanh số bán Thu nhập ròng
ROI=------------------- x ------------------ = --------------------
Doanh số bán Tổng tài sản Tổng tài sản
Mục đích của công thức này là so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty, và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả, thì thu nhập (và ROI) sẽ cao, và nếu ngược lại, thu nhập và ROI sẽ thấp.
Kiến thức CK - P16: Tình trạng nợ của công ty
11/08/2007 06:01 pm
Việc tìm xem một công ty có thể thực hiện trả lãi đến mức độ nào cũng rất quan trọng. Để đạt được mục đích này, bạn có thể sử dụng hệ số thu nhập trả lãi định kỳ. hệ số này đánh giá khả năng sử dụng thu nhập hoạt động (thu nhập trước thuế và lãi - EBIT) để trả lãi của một công ty. Hệ số này cho biết một công ty có khả năng đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ lãi của nó đến mức nào. Rõ ràng, hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh toán lãi của công ty cho các chủ nợ của mình càng lớn.
EBIT
Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ = -----------------------------
Chi phí trả lãi hàng năm
Ví dụ: Nếu EBIT là 8.000.000 USD và chi phí tiền nợ lãi hàng năm là 3.000.000 USD:
8.000.000
Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ = ------------------- = 2,67
3.000.000
Nói cách khác, thu nhập cao gấp 2,7 lần chi phí trả lãi.
Tỷ lệ trả lãi thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm EBIT xuống dưới mức nợ lãi mà công ty này được hạn chế bởi thực tế EBIT không phải là nguồn duy nhất để thanh toán lãi. Các công ty cũng có thể tạo ra nguồn tiền mặt từ khấu hao và có thể sử dụng nguồn vốn đó để trả nợ lãi. Những gì mà một công ty cần phải đạt tới là tạo ra một độ an toàn hợp lý, bảo đảm khả năng thanh toán cho các chủ nợ của mình.
Chỉ riêng hệ số thu nhập trả lãi định kỳ thì chưa đủ để đánh giá một công ty vì hệ số này chưa đề cập đến các khoản thanh toán cố định khác như tiền nợ gốc, chi phí tiền thuê và chi phí cổ tức ưu đãi.
3.Hệ số trang trải chung.
Để giải quyết vẫn đề có liên quan đến hệ số thu nhập trả lãi định kỳ, có thể tính toán hệ số trang trải chung:
Các nguồn thu tiền mặt
Tất cả chi phí trong mẫu số của hệ số này là cố định và đều phải được cân nhắc. rõ ràng, một công ty và các nhà đầu tư của công ty muốn có hệ số trang trải chung cao nhất, nhưng điều này phụ thuộc một phần vào khả năng sinh lãi của công ty.
Khi các hệ số nợ lớn quá mức, công ty có thể nhận thấy chi phí vốn của mình tăng lên. Giá trị các cổ phiếu của công ty cũng có thể giảm xuống tương ứng với mức độ rủi ro của công ty tăng lên. Do đó, các nhà quản lý tài chính phải thận trọng để tránh tình trạng nợ trầm trọng trong cơ cấu vốn của mình. Các nguồn dữ liệu quan trọng của ngành có thể tìm thấy trong các báo cáo tài chính hàng quý từ uỷ ban Chứng khoán về các ngành sản xuất, bán lẻ, khai thác mỏ. Bạn cũng có thể tham chiếu các báo cáo của các tổ chức định mức tín nhiệm để có các số liệu tổng hợp tương tự.
Kiến thức CK - P15: Hệ số hàng lưu kho
11/08/2007 05:59 pm
Tỷ lệ doanh số hàng bán trên hàng lưu kho là quan trọng đối với công ty bởi vì hàng lưu kho là loại tài sản ít lưu hoạt nhất trong các tài sản lưu động. Vì công ty phải dùng một lượng vốn để duy trì hàng lưu kho nên công ty sẽ được lợi khi bán hàng càng nhanh càng tốt lượng hàng này để giải phóng tiền mặt cho các mục đích sử dụng khác.
Gía trị hàng đã bán tính theo giá mua
Hệ số hàng lưu kho= -----------------------------------------
Giá trị hàng lưu kho trung bình
Ví dụ: Hệ số hàng lưu kho
Nếu giá trị hàng hoá bán hàng năm của một công ty là $ 3.000.000 (tính theo giá mua) và giá trị hàng lưu kho trung bình là $ 300.000, thì tỷ lệ hàng đã bán trên hàng lưu kho của công ty này sẽ là 10 lần.
$3.000.000
Hệ số hàng lưu kho = -------------- = 10 lần
$300.000
Số liệu này phải được so sánh với hệ số trung bình của ngành trước khi đưa ra bất kì một bình luận nào, vì các hệ số trung bình của từng ngành khác nhau rất lớn.. Các công ty bán hàng hoá dễ hỏng, như rau tươi thường có tỉ lệ hàng đã bán trên hàng lưu kho rất cao, trong khi đó con số này ở một công ty sản xuất đèn ngủ sẽ thấp hơn nhiều. Tuy nhiên nếu hệ số của một công ty thấp hơn hệ số trung bình của ngành, thì nhà quản lý cần kiểm tra xem tại sao hàng lưu kho lại luân chuyển chậm quá như vậy.
Cần thận trọng khi xem xét hàng đã bán trên hàng lưu kho. Tỷ lệ hàng đã bán trên hàng lưu kho cao không phải bao giờ cũng có nghĩa là việc bán hàng của công ty có hiệu quả. Hệ số hàng đã bán trên hàng lưu kho có thể rất cao khi công ty liên tục hết hàng dự trữ vì công ty không sản xuất đủ hoặc không mua đủ hàng hoá. Trong trường hợp này, hệ số cao thực tế lại cho thấy việc lập kế hoạch hay việc quản lí hàng dự trữ tồi. Do đó, trừ khi đã nghiên cứu kĩ chính sách về hàng lưu kho của một công ty, việc sử dụng chỉ riêng hệ số này chưa thể cung cấp đủ thông tin về khả năng huy động tiền mặt của công ty.
Kiến thức CK - P14: Hệ số thanh toán trung bình
| |||||
| KTCK (P14: Hệ số thanh toán trung bình) 11/08/2007 05:57 pm Đối lập với các khoản phải thu là các khoản phải trả. Để tìm ra thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải thu, ta chia các khoản phải trả cho tiền mua hàng chịu mỗi năm |
Kiến thức CK - P13: Các hệ số hoạt động
| ||||||||||||
| KTCK (P13: Các hệ số hoạt động) 11/08/2007 05:56 pm Các hệ số hoạt động xác định tốc độ mà một công ty có thể tạo ra được tiền mặt nếu có nhu cầu phát sinh. Rõ ràng là một công ty có khả năng chuyển đổi hàng dự trữ và các khoản phải thu thành tiền mặt nhanh hơn sẽ có tốc độ huy động tiền mặt nhanh hơn. Các hệ số sau đây và việc tính toán được thiết lập dựa trên giả định rằng một năm có 360 ngày.
Bảng trên cho thấy tỷ lệ các khoản phải thu của hai công ty thu hồi được trong mỗi thời hạn. Rõ ràng, công ty B ở vào vị trí tốt hơn vì 60% các khoản phải thu của công ty này đã được thu trong vòng 10 ngày, so với mức chỉ là 10% của công ty A. Nếu công ty A và công ty B có chung một số lượng khách hàng và cùng một lượng các khoản phải thu thì thời hạn thu hồi nợ trung bình của hai công ty này sẽ giống nhau. Nhưng việc phần bổ các kỳ thu hồi nợ lại là yếu tố không được đề cập đến trong hệ số, rõ ràng điều này đã khiến cho công ty B có lợi thế hơn nếu chỉ nhìn trên bảng hệ số thu hồi nợ trung bình. |
Kiến thức CK - P12: Hệ thống thông tin thị trường chứng khoán
| |||||
| KTCK (P12: Hệ thống thông tin thị trường chứng khoán) 11/08/2007 05:53 pm I. Chỉ số giá cổ phiếu:a. Khái niệm: Chỉ số giá cổ phiếu là thông tin thể hiện giá chứng khoán bình quân hiện tại so với giá bình quân thời kỳ gốc đã chọn. Giá bình quân thời kỳ gốc thường được lấy là 100 hoặc 1.000. Khi thông báo về thị trường chứng khoán như chỉ số giá chứng khoán Hàn Quốc KOSPI ngày 9/1/1998 là 440.78 điểm cũng chỉ ngụ ý nói về chỉ số giá cổ phiếu của ngày này so với gốc đã chọn là ngày 4/1/1980 với giá gốc là 100. So sánh giá trị chỉ số giữa 2 thời điểm khác nhau ta được mức biến đổi giá giữa 2 thời điểm đó. Nếu trị giá chỉ số KOSPI ngày 10/1/1998 là 445.28 thì có nghĩa là thị trường Hàn Quốc đã có dấu hiệu phục hồi với chỉ số KOSPI đã tăng 5.5 điểm trong ngày 10/1/1998. Nếu đem số này so với giá đóng cửa hôm trước và nhân với 100 thì ta có sự biến đổi theo % ( (5.5/440.78) x 100 = 1.25%). Chỉ số gía cổ phiếu được coi là phong vũ biểu thể hiện tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán. Đây là thông tin rất quan trong đối với hoạt động của thị trường, đối với nhà đầu tư và đánh giá kinh tế. Tất cả các thị trường chứng khoán đều xây dựng hệ thống chỉ số giá cổ phiếu cho riêng mình. Chỉ số giá cổ phiếu được tính cho: - Từng cổ phiếu và có thông báo trên báo chí. - Tất cả cổ phiếu thuộc thị trường của một quốc gia, như chỉ số giá Hangseng của Hồng Kông; chỉ số giá cổ phiếu tổng hợp của Hàn Quốc (KOSPI)… - Từng ngành, nhóm ngành, như chỉ số giá cổ phiếu ngành công nghiệp của Mỹ (DJIA) - Thị trường quốc tế như chỉ số Hangseng Châu á (HSAI), chỉ số Dow Joness quốc tế (DJWSI)… Một số chỉ tiêu sau cũng thường được thống kê, tổng hợp đối với chỉ số giá và thông báo rộng rãi: chỉ số giá ngày đó, ngày đó so với ngày trước đó, so với đầu năm; chỉ số giá cao nhất, thấp nhất trong năm, số cổ phiếu có chỉ số tăng trong kỳ và giảm trong kỳ và phân tích biến động theo ngành… b. Một số chỉ số giá chứng khoán thường được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. * Các chỉ số của Nhật Bản: - Chỉ số NIKKEI 225: là chỉ số tổng hợp cổ phiếu với quyền số giá cả của 225 cổ phiếu thuộc sở giao dịch chứng khoán Tokyo và 250 cổ phiếu thuộc sở giao dịch Osaka. Chỉ số này do Thời báo kinh tế Nhật tính và công bố (Thời báo NIKKEI). Chỉ số này còn được gọi là chỉ số NIKKEI Dow vì phương pháp tính của nó như phương pháp tính các chỉ số DowJones. - Chỉ số TOPIX: chỉ số này tính cho tất cả chứng khoán niêm yết quan trọng của thị trường chứng khoán Tokyo. Thời điểm gốc là 4/1/1968 với giá trị gốc là 100. * Các chỉ số của Anh: - Chỉ số FT-30: là chỉ số giá của 30 cổ phiếu công nghiệp hàng đầu của thị trường chứng khoán London. Chỉ số này được công bố từng giờ một kể từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều và vào lúc đóng cửa sở giao dịch chứng khoán London. Thời gian gốc là năm 1935 với trị giá gốc là 100. - Chỉ số FT-100: là chỉ số giá của 100 cổ phiếu hàng đầu tại Sở giao dịch chứng khoán London. Ngày gốc là 3/1/1984 với trị giá gốc là 1.000. Các loại chỉ số của Mỹ 1. Chỉ số Dow Jones:Là chỉ số giá chứng khoán, phản ánh sự biến động bình quân của giá chứng khoán thuộc thị trường chứng khoán Newyork, một thị trường lớn nhất thế giới. Chỉ số Dow Jones nói chung hiện nay là chỉ số giá chung của 65 chứng khoán đại diện, thuộc nhóm hàng đầu (Blue chip) trong các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Newyork. Nó bao hàm 3 chỉ số thuộc 3 nhóm ngành: Công nghiệp DJIA (Dow Jones Industrial Average), Vận tải DJTA (Dow Jones Transportation Average) và Dịch vụ DJUA (Dow Jones Utilities Average). Chỉ số DJIA là chỉ số lâu đời nhất ở Mỹ do ông Charles H.Dow cùng với công ty mang tên ông thu thập giá đóng cửa của chứng khoán để tính ra và công bố trên Wall Street Journal từ năm 1896. Bắt đầu công ty chỉ tính giá bình quân số học của 12 cổ phiếu. Ngày tính đầu tiên là ngày 26/5/1896 với mức giá bình quân ngày này là 40.94$. Năm 1916 mở rộng ra 20 cổ phiếu và năm 1928 tăng lên 30 cổ phiếu và giữ số lượng này cho đến ngày nay. Trong quá trình đó thường xuyên có sự thay đổi các công ty trong nhóm Top 30. Mỗi khi có công ty chứng tỏ là không thuộc tiêu chuẩn Top 30 của các cổ phiếu Blue Chip nữa thì sẽ có công ty khác chiếm vị thế đó thay thế. Công ty duy nhất còn lại đến nay kể từ đầu là công ty General Electric. Chỉ số DJTA được công bố đầu tiên vào ngày 26/10/1896 và cho đến 2/1/1970 vẫn mang tên chỉ số công nghiệp đường sắt, vì thời gian này vận tải đường sắt là chủ yếu. Chỉ số DJTA bao gồm 20 cổ phiếu của 20 công ty vận tải đại diện cho ngành đường sắt, đường thuỷ và hàng không được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán New York. Chỉ số ngành phục vụ công cộng (DJUA): được công bố trên tờ báo Wall Street từ tháng 1 năm 1929. Chỉ số này được tính từ giá đóng cửa chứng khoán của 15 công ty lớn nhất trong ngành khí đốt và điện. Tuy chỉ có 65 cổ phiếu nhưng khối lượng giao dịch của chúng chiếm đến hơn 3/4 khối lượng giao dịch của TTCK New York, bởi vậy chỉ số Dow Jones thường phản ánh đúng xu thế biến động giá của thị trường chứng khoán Mỹ. Chỉ số giá chứng khoán nói chung, chỉ số Dow Jones nói riêng được coi là phong vũ biểu, hay là nhiệt kế để đo tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế, xã hội. Thông thường nền kinh tế tăng trưởng thì chỉ số tăng và ngược lại. Tuy nhiên, giá chứng khoán nói riêng, giá của thị trường nói chung đều là tổng hợp của hàng loạt yếu tố như: các yếu tố kinh tế vĩ mô, các yếu tố của môi trường đầu tư... nhất là yếu tố tâm lý của người đầu tư. Nhiều khi mới chỉ có dấu hiệu tăng trưởng của nền kinh tế (mà thực sự chưa có) là mức lạc quan của nhà đầu tư đã có thể rất cao và họ đua nhau đi mua chứng khoán, đẩy giá lên cao. Ngược lại, có khi tình hình chưa đến nỗi tồi tệ, nhưng mọi người đã hoảng hốt bán tống bán tháo chứng khoán làm giá giảm tồi tệ. Ví dụ: Ngay khi Bill Clinton công nhận người tình Lewinsky thì chỉ số Dow Jones giảm ngay 200 điểm. |
Kiến thức CK - P11: Chăm sóc các khoản đầu tư
| |||||
| KTCK (P11: Chăm sóc các khoản đầu tư ) 11/08/2007 05:50 pm Tìm hiểu và quyết định đầu tư vào thị trường chứng khoán là những việc làm phức tạp. Chăm sóc mọi việc khi đã đầu tư rồi lại dễ dàng hơn. Mỗi người có những cách khác nhau để quản lý các khoản đầu tư của mình. Sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu sơ qua về những công việc mà các nhà đầu tư nên làm: I. Lập sổ sách theo dõi:1. Lưu giữ tất cả các hợp đồng theo thứ tự ngày tháng. Đây là tập hồ sơ đầy đủ về danh mục đầu tư để bạn theo dõi và tính toán các khoản thuế phải nộp (đối với nhà đầu tư là tổ chức). Hãy kiểm tra chi tiết từng hợp đồng xem có chính xác hay không. 2. Ghi nhận đầy đủ, chi tiết về các khoản cổ tức hay tiền lãi đã nhận được. 3. Nếu vẫn còn nắm giữ các chứng chỉ cổ phiếu, thì các chứng chỉ này phải được cất giữ an toàn nhưng dễ tìm thấy, phòng khi cần bán ngay. 4. Bạn sẽ cần đến một phương pháp nào đó để bám sát tiến triển của các khoản đầu tư đã thực hiện. Phương pháp này có thể dưới dạng một biểu đồ thủ công ghi rõ tên cùng số lượng chứng khoán đang nắm giữ, giá mua vào, giá cả vào các thời điểm định giá sau đó. Lượng thông tin này sẽ làm nền tảng cho một hệ thống theo dõi hoàn hảo những loại chứng khoán mà bạn theo sát. Nếu bạn muốn có một phương pháp tinh vi hơn, các công ty chứng khoán sẽ có những phần mềm điện toán giúp bạn cập nhật giá cả và vẽ biểu đồ thành tích của danh mục đầu tư trên máy tính cá nhân của bạn. 5. Nếu công việc của bạn vốn đã quá bận rộn, tốt nhất bạn nên nhờ đến dịch vụ quản lý danh mục đầu tư của các công ty chứng khoán. Các công ty chứng khoán sẽ thường xuyên cung cấp các báo cáo về tình hình các khoản đầu tư của bạn. (Bạn có thể tìm hiểu thêm về dịch vụ này tại VCBS, liên hệ theo số điện thoại: 9343137- máy lẻ: 2002). II. Thu thập thông tin:Nhà đầu tư muốn đích thân nghiên cứu đầu tư phải tinh lọc từ nhiều nguồn thông tin khác nhau. 1. Báo chí cung cấp rất nhiều loại tư liệu, từ các thông tin về giá cả và các đặc điểm của từng công ty cá biệt cho đến các công trình phân tích và các bài báo về chiến lược đầu tư trong từng khu vực kinh doanh. 2. Phương tiện phát sóng truyền thông đại chúng bao quát rất nhiều tin tức, đặc biệt phải kể đến là các trang thời sự trên TV về giá cả cập nhật ở Thị trường chứng khoán và các bài tóm lược tin tức tài chính. 3. Internet ngày càng được sử dụng rộng rãi giúp cho tình hình tiếp cận thông tin của các nhà đầu tư nhân lên gấp bội: các công ty mà bạn muốn đầu tư vào cũng có các trang web riêng; các công ty chứng khoán nơi bạn mở tài khoản giao dịch có thể cung cấp thông tin thường xuyên qua địa chỉ e-mail. 4. Các bản tin ngày từ trung tâm giao dịch chứng khoán. 5. Các bản tin ngày và tin tuần kèm theo các bài phân tích về thị trường chứng khoán được cung cấp bởi các công ty chứng khoán. 6. Cuối cùng là loại thông tin căn bản nhất – báo cáo tình hình hoạt động từ các công ty niêm yết. |
Kiến thức CK - P10: Thị trường thứ cấp
11/08/2007 01:05 am
A. Tổ chức và hoạt động của thị trường thứ cấp
Xét về phương thức tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán bao gồm 3 loại: Sở giao dịch chứng khoán, Thị trường phi tập trung (OTC), và thị trường thứ 3.
- Thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán): là thị trường trong đó việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch (trading floor). Các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch thông thường là chứng khoán của những công ty lớn, có danh tiếng, đã qua thử thách của thị trường. Phương thức giao dịch tại Sở giao dịch là phương thức đấu giá, trong đó các lệnh mua, bán được ghép với nhau để hình thành giá cả cạnh tranh tốt nhất.
- Thị trường phi tập trung (OTC): là thị trường trong đó việc giao dịch mua bán chứng khoán không diễn ra tại một địa điểm tập trung mà thông qua hệ thống computer nối mạng giữa các thành viên của thị trường. Các chứng khoán được giao dịch trên thị trường phi tập trung là chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ. Phương thức giao dịch tại thị trường OTC là phương thức thoả thuận, giá cả chứng khoán được xác định trên cơ sở thoả thuận giữa các thành viên của thị trường.
- Thị trường thứ 3: là thị trường, trong đó hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán không được thực hiện thông qua hệ thống đấu giá của các Sở giao dịch và hệ thống computer của thị trường OTC.
I. Sở giao dịch chứng khoán
1. Hình thức sở hữu của Sở giao dịch
Sở giao dịch chứng khoán là một tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật. Lịch sử phát triển Sở giao dịch chứng khoán các nước đã và đang trải qua các hình thức sở hữu sau đây:
- Hình thức sở hữu thành viên: Sở giao dịch chứng khoán do các thành viên là công ty chứng khoán sở hữu, được tổ chức như một công ty trách nhiệm hữu hạn, có Hội đồng quản trị mà thành phần đa số do các công ty chứng khoán thành viên cử ra. VD: Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc, Newyork, Tokyo, TháiLan.
- Hình thức công ty cổ phần: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần đặc biệt do các công ty chứng khoán thành viên, ngân hàng, công ty tài chính, bảo hiểm sở hữu với mục tiêu là lợi nhuận theo qui định của Luật công ty. VD: Đức, Malaysia, London, Hongkong…
- Hình thức sở hữu nhà nước: Sở giao dịch chứng khoán do Nhà nước sở hữu (phần lớn hoặc toàn bộ) như trường hợp Sở giao dịch chứng khoán Warsawar, Istabul, Việt Nam…
Trong các hình thức trên, hình thức sở hữu thành viên là phổ biến nhất. Hình thức này cho phép Sở giao dịch chứng khoán có quyền tự quản ở mức độ nhất định, nâng cao được tính hiệu quả và sự nhanh nhạy trong vấn đề quản lý hơn là hình thức sở hữu nhà nước. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định, việc Chính phủ nắm quyền sở hữu và quản lý Sở giao dịch sẽ cho phép ngăn ngừa sự lộn xộn, không công bằng khi hình thức sở hữu thành viên chưa được bảo vệ bằng hệ thống pháp lý đầy đủ và rõ ràng. Ví dụ như trường hợp của Hàn Quốc, Sở giao dịch chứng khoán được thành lập từ năm 1956 nhưng đến năm 1963 bị đổ vỡ phải đóng cửa 57 ngày do các thành viên sở hữu Sở giao dịch chứng khoán gây lộn xộn trong thị trường; sau đó Nhà nước đã phải đứng ra nắm quyền sở hữu Sở giao dịch chứng khoán trong thời gian khá dài từ năm 1963 đến 1988.
2. Mô hình tổ chức của Sở giao dịch:
a. Hội đồng quản trị:
Hội đồng quản trị bao gồm các đại diện là những người có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến thị trường chứng khoán. Nói chung, thành viên Hội đồng quản trị gồm đại diện của các công ty chứng khoán thành viên, và một số người bên ngoài như đại diện các công ty có chứng khoán niêm yết, các tổ chức công nghiệp, các nhà chuyên môn và đại diện của Chính phủ.
b. Các vụ chức năng: thông thường các Sở giao dịch chứng khoán các nước có khoảng 20 – 30 Vụ chức năng. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, các sở có mức tối thiểu khoảng 7 vụ chức năng như sau:
- Các Vụ chuyên môn: Vụ giao dịch; Vụ niêm yết; Vụ kinh doanh.
- Các Vụ phụ trợ: Vụ công nghệ tin học; Vụ nghiên cứu và phát triển; Vụ kế toán; Văn phòng.
3. Thành viên Sở giao dịch chứng khoán:
Thành viên Sở giao dịch chứng khoán là các công ty chứng khoán được Uỷ ban chứng khoán cấp giấy phép hoạt động và được Sở giao dịch chứng khoán chấp nhận là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán.
a. Tiêu chuẩn để trở thành thành viên:
Các Sở giao dịch chứng khoán khác nhau có những tiêu chuẩn khác nhau trong việc kết nạp thành viên. Sự khác nhau này do trình độ phát triển thị trường qui định. Dưới đây là một số tiêu chuẩn chính trong việc kết nạp thành viên.
- Yêu cầu về tài chính:
Các chỉ tiêu về vốn cổ đông, vốn điều lệ, và tổng tài sản có là những chỉ tiêu chủ yếu thường được sử dụng khi xem xét kết nạp thành viên.
Vốn cổ đông là tổng tài sản có trừ tài sản nợ của công ty. Vốn cổ đông bao gồm vốn cổ phần, thặng dự vốn và các khoản lợi nhuận giữ lại. Tại Mỹ, vốn cổ đông quy định tối thiểu là 250.000 USD, ở Thái Lan là 200 triệu Baht.
Ngoài ra, tỷ lệ nợ trên vốn cổ đông và thu nhập trên cổ phiếu cũng là những chỉ tiêu hay được tính đến khi xét kết nạp thành viên. Thông thường tỷ lệ nợ trên vốn cổ đông không được vượt quá 1,5 lần và thu nhập trên cổ phiếu phải đạt một tỷ lệ nhất định trong vòng 2-3 năm.
- Tiêu chuẩn về nhân sự:
Công ty chứng khoán thành viên phải có đội ngũ cán bộ kinh doanh có đủ trình độ, có hiểu biết trong kinh doanh chứng khoán và tư cách đạo đức tốt.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Công ty xin làm thành viên phải có địa điểm và trang thiết bị điện tử cần thiết cho quá trình nhận lệnh, xác nhận kết quả giao dịch và hệ thống bảng điện tử.
b. Quyền hạn và trách nhiệm của thành viên:
Tuỳ theo hình thức sở hữu của Sở giao dịch chứng khoán, thành viên có các quyền hạn sau đây:
- Quyền bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của Sở giao dịch chứng khoán.
- Quyền được giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán.
- Quyền được nhận các dịch vụ do Sở giao dịch chứng khoán cung cấp.
- Quyền bầu đại biểu đại diện cho thành viên tại Hội đồng quản trị.
Ngoài các quyền hạn trên, các thành viên phải có trách nhiệm tuân thủ các quy định của Sở giao dịch chứng khoán, phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và báo cáo bất thường theo quy định.
Hệ thống giao dịch
Hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán được khởi đầu bằng việc đặt lệnh mua bán tại Văn phòng giao dịch của Công ty chứng khoán đặt tại các địa điểm khác nhau trong cả nước. Trước khi đặt lệnh, khách hàng phải làm thủ tục mở tài khoản tại Công ty chứng khoán. Lệnh của khách hàng được chuyền từ Văn phòng công ty chứng khoán đến người đại diện của công ty tại sàn giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán. Các lệnh mua bán được đấu giá với nhau. Kết quả giao dịch sẽ được thông báo lại cho công ty chứng khoán và khách hàng của công ty. Những lệnh được thực hiện sẽ chuyển sang hệ thống thanh toán và lưu ký chứng khoán làm các thủ tục thanh toán chuyển giao chứng khoán và tiền.
Khách hàng <---> Công ty CK <---> Sở giao dịch CK
I. Mở tài khoản:
Trước khi đặt lệnh, khách hàng mở tài khoản tại công ty chứng khoán. Việc mở tài khoản phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa khách hàng và công ty chứng khoán.
1. Các thông tin liên quan đến tài khoản
Khi mở tài khoản, khách hàng phải cung cấp các thông tin sau cho công ty chứng khoán:
- Tên đầy đủ
- Địa chỉ thường trú.
- Số điện thoại
- Số chứng minh thư.
- Các thông tin khác như số tài khoản tại ngân hàng, số tài khoản chứng khoán tại công ty chứng khoán khác (nếu có), thu nhập và kiến thức về thị trường chứng khoán.
- Khi có bất kỳ sự thay đổi nào liên quan đến các thông tin trên, khách hàng phải thông báo ngay cho công ty chứng khoán.
2. Loại tài khoản:
- Tài khoản lưu ký:
Hầu hết tài khoản của khách hàng là tài khoản lưu ký. Khách hàng mua và bán chứng khoán thông qua tài khoản này trên cơ sở giao ngay. Nếu khách hàng không thực hiện được việc thanh toán vào ngày thanh toán quy định, công ty chứng khoán có quyền bán chứng khoán có trên tài khoản để lấy tiền thanh toán.
- Tài khoản ký quỹ:
Khách hàng có thể sử dụng tài khoản này để vay tiền hoặc chứng khoán của công ty chứng khoán.
- Tài khoản uỷ thác:
Là tài khoản qua đó khách hàng uỷ thác cho nhà môi giới quyền mua và bán chứng khoán mà không cần thông báo hoặc có sự đồng ý của khách hàng.
3. Báo cáo tài khoản
Hàng tháng, công ty chứng khoán phải gửi cho khách hàng bản báo cáo về tình trạng tài khoản của khách hàng. Báo cáo phải ghi rõ mọi sự thay đổi trên tài khoản.
II. Đặt lệnh và loại lệnh
1. Đặt lệnh
Khi khách hàng muốn giao dịch, họ phải đặt lệnh bằng một trong các hình thức sau đây:
- Đặt lệnh trực tiếp tại phòng lệnh của công ty chứng khoán.
- Đặt lệnh qua điện thoại.
- Qua mạng vi tính nối mạng trực tiếp với phòng lệnh của công ty chứng khoán.
Nội dung của mẫu lệnh gồm các thông tin sau:
- Lệnh đó là Mua hay Bán, được in sẵn với mẫu khác nhau.
- Số lượng.
- Tên chứng khoán, mã số loại chứng khoán.
- Tên của khách hàng và mã số.
- Ngày giờ đặt lệnh.
- Thời gian có hiệu lực của lệnh.
2. Loại lệnh
a. Lệnh thị trường (Market order): Người ra lệnh chấp nhận mua, bán theo giá hiện hành trên thị trường.
b. Lệnh giới hạn (Limit order): Đối với việc chào bán, giá giới hạn là giá thấp nhất sẵn sàng bán. Đối với việc chào mua, là giá cao nhất sẵn sàng mua.
c. Lệnh dừng (Stop order)
Lệnh dừng để bán: Khách hàng mua 100 cổ phần với giá 12 ngàn đồng/cổ phần. Sau một thời gian giá cổ phiếu này lên tới 20 ngàn đồng/cổ phần. Khách hàng chưa muốn bán vì ông ta cho rằng giá còn tăng nữa. Nhưng để đề phòng trường hợp giá không tăng mà lại giảm, khách hàng này đặt lệnh dừng với người đại diện công ty chứng khoán để bán với giá 19 ngàn đồng/cổ phần chẳng hạn. Nếu thực tế giá cổ phiếu đó không tăng mà lại giảm thì giá cổ phiếu đó giảm tới 19 ngàn, người môi giới sẽ bán cho ông ta.
Lệnh dừng để mua: Lệnh này thường được dùng trong trường hợp bán khống để giới hạn sự thua lỗ. Chẳng hạn khách hàng vay của công ty chứng khoán một số cổ phần và bán đi với giá 30 ngàn đồng/cổ phần với hy vọng giá cổ phiếu giảm xuống tới 20 ngàn đồng/ cổ phần, ông ta sẽ mua để trả. Nhưng để đề phòng trường hợp giá cổ phiếu không giảm mà lại tăng, khách hàng đó đặt một lệnh dừng để mua với giá 35 ngàn đồng. Khi giá lên tới 35 ngàn đồng, người môi giới sẽ mua cổ phiếu đó cho ông ta và ông ta đã giới hạn sự thua lỗ của mình ở mức 5 ngàn đồng / cổ phần.
Một lệnh dừng để mua được đưa ra trên mức giá thị trường hiện hành còn một lệnh dừng để bán được đưa ra thấp hơn giá thị trường hiện hành..
Các loại lệnh khác: các loại lệnh được đưa ra nhằm những mục đích nhất định
- Lệnh giới hạn dừng (stop limit): cũng giống như một lệnh dừng nhưng nó sẽ chuyển thành một lệnh giới hạn chứ không chuyển thành một lệnh thị trường khi đạt tới điểm dừng.
- Lệnh thực hiện toàn bộ hay huỷ bỏ (Fill or Kill): loại lệnh này được thực hiện ngay toàn bộ hoặc huỷ bỏ.
- Lệnh thực hiện ngay hoặc huỷ bỏ (Immediate or cancel IOC): lệnh được thực hiện ngay một phần nào đó, phần còn lại bị huỷ bỏ.
- Lệnh toàn bộ hoặc không (All or None, AON): với một thời hạn cho trước, chẳng hạn một ngày, lệnh phải được thực hiện toàn bộ, nếu không khách hàng sẽ không chấp nhận việc thực hiện đó.
III. Định giá trên Sở giao dịch:
a. Đấu giá định kỳ và đấu giá liên tục:
Đấu giá định kỳ là hệ thống trong đó các lệnh mua và lệnh bán được tích tụ lại trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó mới được ghép với nhau để hình thành một mức giá duy nhất tại điểm có khối lượng mua và bán lớn nhất được thực hiện.
Đấu giá liên tục là hệ thống trong đó các lệnh mua và lệnh bán liên tục được ghép với nhau nếu có thể.
Đấu giá định kỳ có ưu điểm là cho phép hình thành giá cả tốt nhất trên cơ sở khối lượng mua bán lớn được tích tụ lại. Đấu giá định kỳ thích hợp với thị trường có khối lượng giao dịch nhỏ; nó cho phép giảm bớt sự biến động quá mức của giá cả. Tuy nhiên, việc đấu giá liên tục lại thích hợp với thị trường có khối lượng giao dịch lớn. Nó cho phép hình thành giá cả tức thời đáp ứng được những thay đổi thường xuyên về thông tin trên thị trường.
Thông thường các nước có thị trường chứng khoán phát triển đều áp dụng cả phương thức đấu giá định kỳ và đầu giá liên tục. Mỗi ngày giao dịch có thể có 1 hoặc 2 phiên giao dịch (buổi sáng và buổi chiều). Vào đầu giờ phiên giao dịch buổi sáng, người ta xác định giá mở cửa theo phương thức đấu giá định kỳ. Sau đó việc giao dịch được thực hiện theo phương thức đấu giá liên tục. Cuối ngày giao dịch, người ta lại xác định giá đóng cửa theo phương thức đấu giá định kỳ.
b. Nguyên tắc ghép lệnh
- Giá mua cao hơn giá cơ bản và giá bán thấp hơn giá cơ bản sẽ được thực hiện trước.
- Phân bổ từ bên có khối lượng ít sang bên có khối lượng nhiều.
- Nếu sau khi khớp lệnh có nhiều mức giá cùng thoả mãn thì lấy mức giá gần với giá đóng cửa của ngày hôm trước hay mức giá của ngay phiên giao dịch trước đó.
c. Các nguyên tắc ưu tiên trong việc so khớp lệnh
- Nguyên tắc cơ bản đầu tiên được áp dụng là nguyên tắc ưu tiên về giá. Theo nguyên tắc này, các lệnh có giá tốt nhất (chào mua cao nhất và chào bán thấp nhất) được ưu tiên thực hiện trước.
Ngoài nguyên tắc cơ bản trên đây, những nguyên tắc phụ sau đây sẽ được áp dụng:
- Nguyên tắc ưu tiên về thời gian: trong những lệnh có cùng mức giá, lệnh nào đến trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước.
- Ưu tiên về khách hàng: có hai loại khách hàng là khách hàng cá nhân và khách hàng là nhà đầu tư có tổ chức như công ty chứng khoán, quỹ đầu tư…SGDCK thường áp dụng quy tắc ưu tiên khách hàng là cá nhân trước khách hàng là nhà đầu tư có tổ chức.
- Ưu tiên về khối lượng: lệnh nào có khối lượng lớn hơn sẽ được ưu tiên phân phối trước.
- Ưu tiên ngẫu nhiên : theo nguyên tắc này, người ta chỉ áp dụng ưu tiên về giá. Sau đó các lệnh khi đưa vào hệ thống sẽ được máy tính sắp xếp một cách ngẫu nhiên.
IV. Giao dịch đặc biệt
1. Giao dịch khối
Những giao dịch có khối lượng lớn (số cổ phiếu và trị giá lớn) được gọi là lô lớn. Thông thường những giao dịch có khối lượng lớn được giao dịch theo cách thức riêng gọi là giao dịch khối. Có hai cách giao dịch là:
- Tổ chức đấu thầu.
- Thương lượng dựa trên giá đóng cửa.
2. Giao dịch lô lẻ
Lô lẻ là những lô khối từ
1 tới 9 cổ phiếu (trường hợp lô chẵn 10 cổ phiếu)
1 tới 99 cổ phiếu (trường hợp lô chẵn 100 cổ phiếu)
1 tới 999 cổ phiếu (trường hợp lô chẵn 1.000 cổ phiếu).
Giá giao dịch lô lẻ thường được xác định trên cơ sở quyết định của Công ty môi giới căn cứ vào giá đóng cửa của ngày giao dịch hôm trước.
Việc giao dịch lô lẻ được thực hiện tại công ty chứng khoán và trong giao dịch lô lẻ, công ty môi giới thường thu phí cao hơn.
3. Giao dịch chứng khoán không có cổ tức
Định kỳ, theo quyết định của Hội đồng quản trị, công ty cổ phần có thể trả cổ tức bằng tiền hoặc cổ phiếu. Những cổ đông có danh sách vào ngày đăng ký cuối cùng sẽ được nhận cổ tức. Những cổ đông sở hữu chứng khoán từ sau ngày khoá sổ sẽ không được nhận cổ tức. Nếu ngày thanh toán là T+3 thì chứng khoán không có cổ tức sẽ như sau:
27/12 28/12 29/12 30/12 31/12
Ngày có cổ tức ex-divident Ngày đăng ký Ngày khoá sổ cuối cùng (không có cổ tức)
Vào ngày chứng khoán không có cổ tức, giá tham chiếu sẽ bằng giá đóng cửa ngày hôm trước trừ đi cổ tức.
- Trường hợp trả cổ tức bằng cổ phiếu
Giá tham chiếu = Giá đóng cửa ngày hôm trước /
1 + tỷ lệ trả cổ tức bằng cổ phiếu
- Trường hợp trả cổ tức bằng tiền và bằng cổ phiếu
Giá tham chiếu = Giá đóng của ngày hôm trước – cổ tức bằng tiền/
1+ tỷ lệ trả cổ tức bằng cổ phiếu
4. Giao dịch không hưởng quyền mua cổ phiếu mới
27/12 28/12 29/12 30/12 31/12
Ngày có cổ tức ex-divident Ngày đăng ký Ngày khoá sổ cuối cùng (không có cổ tức)
5. Giao dịch chứng khoán ngân quỹ
Việc mua lại chứng khoán phải chịu sự quản lý chặt chẽ của sở giao dịch chứng khoán (SGDCK). Công ty phát hành mở một tài khoản tại 1 công ty chứng khoán chỉ định.
Một ngày trước ngày giao dịch công ty phải trình cho SGD đơn xin mua chứng khoán (trình bày rõ số lượng và giá đặt mua). Số lượng không được quá 10% cổ phiếu lưu hành.
Lệnh phải đặt trước khi mở cửa thị trường và chỉ được đặt lệnh một lần trong một ngày. Việc mua lại chỉ được thực hiện trong phạm vi 3 tháng và trong vòng 6 tháng không được bán lại chứng khoán ra thị trường kể từ ngày mua lại.
Giá đặt mua chứng khoán ngân quỹ không được vượt quá giá đóng cửa ngày hôm trước trong một tỷ lệ nhất định.
6. Giao dịch ký quỹ
Ví dụ: Bạn dự đoán cổ phiếu thường ABC với giá hiện thời là 15.000 đồng một cổ phiếu, sẽ tăng giá trong vòng 1 năm, lên 30.000 đồng. Với số tiền bạn có là 1.500.000 đồng, bạn có thể mua 100 cổ phiếu ABC, nắm giữ trong một năm và bán ra để thu về 3.000.000 đồng, đạt mức lợi tức trên đầu tư là 100%.
Tuy nhiên, bạn cũng có thể thực hiện việc ký quỹ bằng cách trả 50% tổng giá mua, 50% còn lại sẽ vay tại công ty chứng khoán, nơi bạn mở tài khoản ký quỹ. Trong trường hợp này, bạn có thể đầu tư 3.000.000 đồng và mua 200 cổ phiếu. Nếu dự đoán của bạn là đúng, giá thị trường của cổ phiếu ABC tăng lên 30.000 đồng trong vòng 1 năm, bạn có thể bán cổ phiếu ra và thu về 6.000.000 đồng. Tất nhiên, trong số 6.000.000 đồng thu về này bạn phải trả lại 1.500.000 đ đã vay của công ty chứng khoán, và tiền lãi của khoản vay đó, giả sử với lãi suất 10% một năm:
6.000.000 – 1.500.000 – 150.000 = 4.350.000 (đồng)
Lợi nhuận của bạn sẽ là chênh lệch giữa con số đầu tư ban đầu 1.5 triệu, tức là bằng 2.850.000 đồng, lợi tức so với đầu tư là 190%. Vậy mua ký quỹ đã làm tăng tỷ lệ lợi nhuận của bạn lên đáng kể.
Tuy nhiên, mua ký quỹ cũng như con dao hai lưỡi. Nếu cổ phiếu lên giá, bạn sẽ có lời đáng kể, nhưng nếu cổ phiếu giảm giá, khoản lỗ của bạn cũng tăng lên. Ngay cả khi cổ phiếu vẫn giữ nguyên mức giá, bạn cũng vẫn thua lỗ, bởi số lãi phải trả cho số tiền vay trong suốt thời gian ký quỹ cứ lớn dần lên. Và hơn nữa, không phải chứng khoán nào cũng được phép giao dịch theo mức này.
Mức ký quỹ ban đầu được thực hiện theo luật định, ví dụ như luật Mỹ là 50%. Sau đó, nếu giá thị trường của cổ phiếu thay đổi, tỷ lệ của số dư ký quỹ của khách hàng so với số dư nợ có thể giảm xuống nhưng không xuống thấp hơn 25% nếu tụt xuống quá ngưỡng này, công ty chứng khoán có thể yêu cầu khách hàng đặt thêm tiền ký quỹ.
Kiến thức CK - P9: Bảo lãnh phát hành
| |||||
| KTCK (P9: Bảo lãnh phát hành) 11/08/2007 12:42 am a. Khái niệm: |
Kiến thức CK - P8: Quy trình phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng
| |||||
| KTCK (P8: Quy trình phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng) 11/08/2007 12:40 am Thông thường việc phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng được thực hiện theo các bước sau: |
Kiến thức CK - P7: Phát hành CK lần đầu ra công chúng (IPO).
| |||||
| KTCK (P7: Phát hành CK lần đầu ra công chúng (IPO). ) 11/08/2007 12:38 am Như đã đề cập ở phần trước, khái niệm phát hành lần đầu ra công chúng (IPO) chỉ được hiểu đối với việc phát hành cổ phiếu. Do vậy sau đây, chúng ta sẽ chủ yếu đề cập đến việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. 1. Điều kiện phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng:Mỗi nước có những qui định riêng cho việc phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng. Tuy nhiên, để phát hành chứng khoán ra công chúng thông thường tổ chức phát hành phải đảm bảo năm điều kiện cơ bản sau: 2. Những điểm thuận lợi và bất lợi khi phát hành chứng khoán ra công chúng.a. Những điểm thuận lợi |
Kiến thức CK - P6: Thị trường sơ cấp
| |||||
| KTCK (P6: Thị trường sơ cấp) 11/08/2007 12:34 am I. Khái niệm, chức năng: |
Kiến thức CK - P5: Các công cụ phái sinh
| |||||
| KTCK (P5: Các công cụ phái sinh) 11/08/2007 12:32 am I. Khái niệm:Công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. II. Các loại công cụ phái sinh:1. Quyền lựa chọn (Option) a. Khái niệm: Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hoá với một mức giá xác định, và trong một thời gian nhất định. 2. Quyền mua trước (right)Quyền mua trước là một quyền lựa chọn mua có thời hạn rất ngắn, có khi chỉ vài tuần. Quyền này được phát hành khi các công ty tăng vốn bằng cách phát hành thêm các cổ phiếu thường. Quyền cho phép một cổ đông mua cổ phiếu mới phát hành với mức giá đã ấn định trong một khoảng thời gian xác định. 3. Chứng quyền (warrants)Chứng quyền là quyền cho phép mua một số cổ phần xác định của một cổ phiếu, với một giá xác định, trong một thời hạn nhất định. Quyền này được phát hành khi tiến hành tổ chức lại các công ty, hoặc khi công ty muốn khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua những trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi nhưng có những điều kiện kém thuận lợi. Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư có được một lựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường. 4.Hợp đồng kỳ hạnHợp dồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay. 5. Hợp đồng tương laiHợp đồng tương lai, nhờ đặc tính linh hoạt của nó, đã khắc phục được những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn, và thường được xem là một cách thức tốt hơn để rào chắn rủi ro trong kinh doanh. |
Kiến thức CK - P4: Chứng khoán có thể chuyển đổi
11/08/2007 12:30 am
1. Khái niệm:
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định có thể đổi nó thành một chứng khoán khác.
Những loại chứng khoán có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường phổ biến là:
- Cổ phiếu ưu đãi.
- Trái phiếu.
3. Mục đích của việc phát hành và đầu tư vào chứng khoán chuyển đổi:
Phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi là nhằm huy động thêm vốn vào những thời điểm chưa thích hợp cho việc phát hành cổ phiếu thường. Việc phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi cũng có thể nhằm mục đích tăng thêm tính hấp dẫn cho đợt phát hành, nhất là khi thị trường trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đang xuống giá.
4. Lợi ích của trái phiếu chuyển đổi:
* Đối với bên phát hành: do việc người đầu tư sẽ được hưởng quyền chuyển đổi trái phiếu này ra cổ phiếu thường khi đến hạn, nên:
+ Nếu là trái phiếu: bên phát hành sẽ bán trái phiếu ra với lãi suất thấp.
+ Nếu là cổ phiếu ưu đãi: bên phát hành sẽ chào bán với giá cao.
Khi các chứng khoán được chuyển đổi, nhà phát hành còn có lợi vì loại bỏ được các khoản cố định phải trả, đồng thời tăng thêm số lượng cổ đông của công ty, một chỉ báo có lợi cho danh tiếng của công ty.
* Đối với người đầu tư:
+ Chứng khoán có thể chuyển đổi có sức hấp dẫn ở chỗ chúng kết hợp được tính an toàn của trái phiếu (thu nhập cố định) với tính có thể đầu cơ của cổ phiếu thường.
+ Chứng khoán có thể chuyển đổi cho phép nhà đầu tư có thể được bảo hiểm trước tình trạng lạm phát.
Tuy nhiên, những lợi ích của việc thực hiện chuyển đổi tuỳ thuộc nhiều vào giá chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi, và tương quan giá giữa công cụ có thể chuyển đổi với những công cụ mà chúng có thể chuyển đổi thành. Đó là những yếu tố thường không nằm trong tầm kiểm soát của người đầu tư.
Ví dụ 1: một trái phiếu có mệnh giá là 1.000.000 đồng; nếu cứ 50.000 đồng được đổi lấy một cổ phần của cổ phiếu thường, thì giá chuyển đổi là 50.000 đồng; hệ số chuyển đổi là 1.000.000 đồng: 50.000 đồng = 20 (cổ phần).
Ví dụ 2: Giả sử trái phiếu trên đang có giá là 1.045.000 đồng ; được chuyển thành 100 cổ phần của một cổ phiếu thường. Giá tương đương chuyển đổi là 1.045.000 đồng:100 = 10.450 đồng. Điều đó có nghĩa là giá trị trường của cổ phiếu ít nhất phải bằng 10.045 đồng thì việc nắm giữ trái phiếu và chuyển đổi nó thành cổ phiếu mới được coi là tương đương về mặt giá trị. Nếu giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá tương đương chuyển đổi thì việc chuyển đổi sẽ đem lại một phần lợi nhuận.
Trên thực tế rất có thể giá cổ phiếu không lên tới mức mà người nắm giữ trái phiếu có thể chuyển đổi trái phiếu để thu lợi nhuận.
Kiến thức CK - P3: Giới thiệu trái phiếu
11/08/2007 12:26 am
1. Khái niệm:
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.
2. Đặc điểm:
a. Một trái phiếu thông thường có ba đặc trưng chính:
+ Mệnh giá.
+ Lãi suất định kỳ (coupon)
+ Thời hạn.
b. Trái phiếu thể hiện quan hệ chủ nợ – con nợ giữa người phát hành và người đầu tư .
Phát hành trái phiếu là đi vay vốn. Mua trái phiếu là cho người phát hành vay vốn và như vậy, trái chủ là chủ nợ của người phát hành. Là chủ nợ, người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết về khối lượng và thời hạn, song không có quyền tham gia vào những vấn đề của bên phát hành.
c. Lãi suất của các trái phiếu rất khác nhau, được quy định bởi các yếu tố:
Cung cầu vốn trên thị trường tín dụng. Lượng cung cầu vốn đó lại tuỳ thuộc vào chu kỳ kinh tế, động thái chính sách của ngân hàng trung ương, mức độ thâm hụt ngân sách của chính phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó.
Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành. Cấu trúc rủi ro của lãi suất sẽ quy định lãi suất của mỗi trái phiếu. Rủi ro càng lớn, lãi suất càng cao.
Thời gian đáo hạn của trái phiếu. Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, nhìn chung thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
3. Phân loại trái phiếu.
3.1. Căn cứ vào việc có ghi danh hay không:
- Trái phiếu vô danh: là trái phiếu không mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành. Những phiếu trả lãi đính theo tờ chứng chỉ, và khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới ngân hàng nhận lãi. Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ tới ngân hàng để nhận lại khoản cho vay.
- Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên chứng chỉ và trên sổ của người phát hành. Hình thức ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi. Dạng ghi danh toàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ. Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính.
3.2. Căn cứ vào đối tượng phát hành trái phiếu đó:
Trái phiếu chính phủ: là những trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích, hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ.
Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao. Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn.
Trái phiếu công trình: là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn cho những mục đích cụ thể, thường là để xây dung những công trình cơ sở hạ tầng hay công trình phúc lợi công cộng. Trái phiếu này có thể do chính phủ trung ương hoặc chính quyền địa phương phát hành.
Trái phiếu công ty: là các trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn dài hạn. Trái phiếu công ty có đặc điểm chung sau:
Trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không được tham dự vào các quyết định của công ty. Nhưng cũng có loại trái phiếu không được trả lãi định kỳ, người mua được mua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại mệnh giá.
Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu.
Có những điều kiện cụ thể kèm theo, hoặc nhiều hình thức đảm bảo cho khoản vay.
Trái phiếu công ty bao gồm những loại sau:
Trái phiếu có đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị. Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể.
Trái phiếu không bảo đảm:
Trái phiếu tín chấp không được đảm bảo bằng tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty. Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ động.
Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành. Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định.
Ngoài những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắn kèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên nào đó. Cụ thể là:
- Trái phiếu có thể mua lại cho phép người phát hành mua lại chứng khoán trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết. Đặc tính này có lợi cho người phát hành song lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn.
- Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn. Quyền chủ động trong trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn.
- Trái phiếu có thể chuyển đổi cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở thành người chủ sở hữu của công ty. Loại trái phiếu này thuộc vào nhóm hàng hoá chứng khoán có thể chuyển đổi được đề cập tới dưới đây.
4. Lợi ích của đầu tư qua trái phiếu:
- Dù làm ăn thua lỗ, công ty vẫn phải trả đủ tiền lãi, không cắt giảm hoặc bỏ như cổ phiếu. Nếu công ty ngừng hoạt động, thanh lý tài sản, trái chủ được trả tiền trước người có cổ phần ưu đãi và cổ phần thông thường. Nhưng nếu công ty có lợi nhuận cao, công ty có thể chia thêm cổ tức cho người có cổ phần, thì trái chủ vẫn chỉ được hưởng ở mức đã định.
- Trái phiếu có loại được miễn thuế thu nhập (trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương). Đối với những người có thu nhập cao, mua trái phiếu trên vẫn có lợi.
- Trái phiếu trên thị trường thứ cấp có giá lên xuống đối nghịch với lãi suất thị trường. Nếu biết tính toán phân tích để thực hiện mua bán thì vẫn có lợi.
5. Bất lợi khi đầu tư trái phiếu:
- Khi nhận được tiền lãi phải lo đầu tư số tiền đó vì rất ít công ty có chương trình tái đầu tư tiền lãi trái phiếu. Trong khi đó, nhiều công ty có chương trình tái đầu tư cổ tức. Cổ đông có thể mua thêm cổ phần được miễn sở phí, và có khi còn được mua cổ phần với giá rẻ hơn giá thị trường.
- Giá trái phiếu công ty cũng biến động khá mạnh trên thị trường: khi lãi suất thị trường lên cao hơn lãi suất trái phiếu thì giá trái phiếu sẽ hạ. Khi cơ quan đánh giá xếp loại doanh nghiệp, đánh giá công ty phát hành từ loại AAA(3A) xuống AA(2A) hoặc xuống BBB(3B) thì giá trái phiếu cũng sẽ bị hạ. Hoặc khi có sự mất mát thị trường, vỡ nợ… thì giá trái phiếu cũng sẽ bị hạ.Và giá trái phiếu cũng sẽ giảm đi khi có ít người mua.
6. Khi đầu tư trái phiếu cần chú ý gì?
Trước khi mua trái phiếu cần tìm hiểu hai điều: chiều hướng lên xuống của lãi suất và uy tín của công ty phát hành.
Nên mua trái phiếu lúc lãi suất đang ở thời điểm cao nhất và đang trên đà giảm dần. Và nên mua trái phiếu dài hạn để có thể được hưởng lãi suất cao trong một thời gian dài. Ngược lại, lúc lãi suất đang ở mức thấp nhất và bắt đầu tăng, nên bán trái phiếu dài hạn đi để mua vào trái phiếu trung hạn.
Kiến thức CK - P2: Giới thiệu về Cổ phiếu
| |||||
| KTCK (P2: Giới thiệu về Cổ phiếu) 11/08/2007 12:24 am I. Khái niệm Cổ phiếu:Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. II. Tác dụng của việc phát hành Cổ phiếu:Đối với Công ty phát hành: Việc phát hành Cổ phiếu sẽ giúp cho Công ty có thể huy động vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh. Nguồn vốn huy động này không cấu thành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín dụng ...thì hoàn toàn ngược lại. Tuy nhiên, mỗi phương thức huy động đều có những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lý công ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp. |
Kiến thức CK - P1: Khái quát về thị trường chứng khoán
| |||||
| KTCK (P1: Khái quát về thị trường chứng khoán) 11/08/2007 12:21 am I.Thị trường chứng khoán là gì?Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung. Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất. II.Chức năng của TTCK1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội. 2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúngTTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình. 3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoánNhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao. 4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệpThông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm. 5. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ môCác chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế. III. Cơ cấu TTCK: xét về sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường, TTCK có hai loại:1. Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành. 2. Thị trường thứ cấp:Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. IV. Các nguyên tắc hoạt động của TTCK:1. Nguyên tắc cạnh tranh: Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu của mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá. 2. Nguyên tắc công bằng: Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những qui định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những qui định đó. 3. Nguyên tắc công khai:Chứng khoán là loại hàng hoá trừu tượng nên TTCK phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt. Theo luật định, các tổ chức phát hành có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin đầy đủ theo chế độ thường xuyên và đột xuất thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan. 4. Nguyên tắc trung gian:Nguyên tắc này có nghĩa là các giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình. 5. Nguyên tắc tập trung:Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trường OTC dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản. V. Các thành phần tham gia TTCK1. Nhà phát hành:Là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK dưới hình thức phát hành các chứng khoán. 2. Nhà đầu tư:Là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: 3. Các công ty chứng khoán:Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh. 4. Các tổ chức có liên quan đến TTCK:- Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK ở Việt nam. |
Wednesday, January 16, 2008
Ca Dao Viet Nam
2) Chim có tổ người có tông.
3) Hiếu để hơn lễ bái
4) Trẻ cậy cha, già cậy con.
5) Cha mẹ sinh con, Trời sinh tính.
6) Con hơn cha là nhà có phúc.
7) Phú quí sinh lễ nghĩa,
Bần tiện sinh đạo tặc.
8) Chiều chiều ra đứng bờ ao,
Nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều.
9) Con người có tổ có tông,
Như cây có cội, như sông có nguồn.
10) Cây xanh thì lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
11) Có cha có mẹ thì hơn
Không cha không mẹ như đờn đứt dây
12) Còn cha gót đỏ như son,
Một mai cha chết, gót con như chàm
13) Mẹ già ở chốn lều tranh
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con
Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cho mẹ trăm đường con hư
14) Trâu heo khi chết tế ruồi
Chẳng bằng khi sống ngọt bùi còn hơn
15) Ai về tôi gởi đôi giày,
Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.
16) Ăn chanh ngồi gốc cây chanh,
Bác mẹ gả ép cho anh học trò.
17) Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chưo hiếu mới là đạo con.
18) Con biết nói, mẹ sói đầu.
19) Ðàn ông đi biển có đôi,
Ðàn bà ‘đi biển’ mồ côi một mình
20) Ngày đêm mẹ ẵm, mẹ bồng,
Bên ướt mẹ nằm, bên ráo cho con.
21) Miếng ăn miếng mặc mẹ lo,
Làm sao con được ấm no mẹ mừng.
22) Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,
Năm canh chày thức đủ năm canh.
23) Cũng vì con chính vì con,
Mỗi ngày mẹ một gầy mòn tấm thân.
24) Mồ côi cha ăn cơm với cá,
Mồ côi mẹ liếm lá ngoài đường.
25) Mấy đời bánh đúc có xương,
Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng.
26) Chiều hôm mới trở về nhà,
Tiền xe dành để mua quà cho con.
27) Mai mốt thiếp có xa chàng,
Ðôi bông thiếp trả, con chàng thiếp xin.
28) Mẹ già tóc bạc pha sương,
Vì con dầu dãi trăm đường đắng cay.
29) Con ơi, muốn nên thân người,
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ khuyên.
30) Ai rằng công mẹ bằng non,
Thực ra công mẹ lại còn lớn hơn.
31) Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học, mẹ đi trường đời.
32) Cái nết đánh chết cái đẹp.
33) Chồng ta áo rách ta thương,
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
34) Khi thương quán cũng như nhà,
Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói xây.
35) Ðốn cây ai nỡ dứt chồi,
Ðạo chồng nghĩa vợ giận rồi lại thương.
36) Anh đi đường ấy xa xa,
Ðể em ôm bóng trăng tà năm canh.
37) Nước non một gánh chung tình,
Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng.
38) Thuận vợ thuận chồng, tát bể Ðông cũng cạn.
39) Phu thê trọng nghĩa tương phùng,
Chăn loan, gối quế, rắp lòng chờ ai .
40) Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.
41) Có cha mẹ mới có ta,
Làm nên là bởi mẹ cha vun trồng.
42) Có nghèo mới biết con hiếu,
Có thiếu mới biết bạn hiền.
43) Cá không ăn muối cá ươn,
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư
44) Gái mà chi, trai mà chi,
Sinh ra có nghĩa có nghì là hơn.
45) Nhà nghèo, mới hay con thảo,
Nước loạn mới rõ tôi trung.
46) Yêu nhau lắm cắn nhau đau
47) Anh em như thể tay chân
48) Chị ngã thì em lại nâng,
Chớ đừng chị ngã, em bưng miệng cười.
49) Máu chảy ruột mềm.
50) Môi hở răng lạnh.
51) Tay đứt, ruột xót.
52) Con chị cõng con em.
53) Tre non dễ uốn.
54) Cha truyền, con nối
55) Con út trút gia tài.
56) Trẻ cậy cha, già cậy con.
57) Con có cha như nhà có nóc,
Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.
58) Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,
Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày.
59) Mật ngọt chết ruồi
60) Có chí thì nên.
61) Của ít, lòng nhiều.
62) Miệng ăn, núi lở.
63) Nhất quỉ, nhì ma,
Thứ ba học trò.
64) Tham thì thâm.
65) Lá rụng về cội.
66) Nước chẩy đá mòn.
67) Góp gió thành bão.
68) Chở củi về rừng.
69) Lá lành đùm lá rách.
70) Cái khó bó cái khôn.
71) Ăn cây nào rào cây nấỵ
72) Nén bạc đâm toạc tờ giấy.
73) Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.
74) Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa!
75) Bôn ba, không qua số trời.
76) Sai một ly, đi một dặm.
77) Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
78) Lùi một bước tiến ba bước.
79) Thất bại là mẹ thành công.
80) Bói ra ma quét nhà ra rác.
81) Có thực mới vực được đạo.
82) Tránh voi chẳng xấu mặt nào.
83) Của một đồng, công một nén.
84) Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.
85) Bán anh em xa mua láng giềng gần.
Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.
86) Giặc đến nhà đàn bà phải đánh.
87) Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.
88) Ðược làm vua, thua làm giặc!
89) Ðổi bát mồ-hôi, lấy bát cơm!
90) Con nhà lính, tính nhà quan.
91) Giầu nhờ bạn, sang nhờ vợ.
92) Giầu đổi bạn, sang đổi vợ!
93) Một nụ cười bằng thang thuốc bổ
94) Cây muốn lặng gió chẳng đừng.
95) Con muốn nuôi cha mẹ đao khuất.
96) Học ăn học nói,
Học gói học mở.
97) Có phước làm quan,
Có gan làm giầu.
98) Còn thuyền còn chèo,
Còn nước còn tát.
99) Nhà khó cậy vợ hiền,
Nước loạn nhờ tướng giỏi.
100) Nhà nghèo, mới hay con thảo,
Nước loạn mới roo tôi trung.
101) Của rẻ là của ôi,
Của đầy nồi là của không ngon.
102) Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
103) Ði với bụt mặc áo cà sa,
Ði với ma mặc áo giấy.
104) Học mà không nghĩ là lầm,
Nghĩ mà không học là nguy.
105) Tháng năm chưa nằm đao sáng,
Tháng mười chưa cười đao tối.
106) Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
107) Lời nói không mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
108) Ðao mang tiếng ở trong trời đất ,
Phải có danh gì với núi sông.
109) Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
110) Ai về Bình Ðịnh mà coi,
Ðàn bà con gái cầm roi đi quyền.
111) Ăn buổi gioa, loa buổi cày ,
Một ngày ăn gioa, ba ngày hút nước.
112) Ai ơi đừng chóng chớ chầy,
Có công mài sắt, có ngày nên kim.
113) Ai đem con sáo sang sông,
Ðể cho con sáo xổ lồng nó bay.
114) Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
115) Ăn, thì ăn những miếng ngon,
Làm thì chọn việc cỏn con mà làm.
116) Có hèn cũng ngựa nhà quan,
Kiều khấu rách nát hồng nhan vẫn còn.
117) Chim quyên xuống đất ăn trùn,
Anh hùng lỡ vận lên nguồn đốt than.
118) Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
119) Cười người chớ vội cười lâu,
Cười người hôm trước hôm sau người cười.
120) Còn duyên kẻ đón người đưa,
Hết duyên đi sớm về trưa một mình.
121) Ðêm đêm đốt đỉnh hương trầm,
Khói lên nghi ngút âm thầm nhớ quê.
122) Ai ơi chớ lấy học trò,
Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm.
123) Anh này số phận ra trò,
Về nhà, cả cạo, cả mò trong niêu.
124) Bà còng đi chợ trời mưa,
Cái tôm cái tép đi đưa bà còng.
125) Mồ côi cha ăn cơm với cá,
Mồ côi mẹ liếm lá ngoài đường.
126) Mấy đời bánh đúc có xương,
Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng.
127) Bắc thang lên hỏi ông Trời,
Ðem tiền cho gái có đòi được không ?
128) Dẫu xây chín bậc phù đồ,
Không bằng làm phước cứu cho một người.
129) Buổi chợ đông, con cá hồng, chê lạt,
Buổi chợ tàn, con tép bạc cuong phải mua.
130) Kẻ xa xí thì giàu có mà tiêu dùng vẫn thiếu,
Người cần kiệm thì nghèo mà chi tiêu vẫn có thừa.
131) Ðừng ham giành giựt của tiền,
Người hung hay gọi kẻ hiền là ngu.
132) Phật Tây phương thật quá xa xăm,
Phải tìm kiếm ở trong trí tuệ.
133) Trên cao đã có thánh tri,
Người nhân nghĩa chẳng hàn vi bao giờ.
134) Chỉ đâu mà buộc ngang trời,
Tay đâu mà đậy miệng người thế gian.
135) Sa chân bước xuống ruộng dưa,
Dầu ngay cho chết cũng ngờ rằng gian.
136) Cẩu thả trong các bổn phận nhỏ,
Là dọn đường cho các loai lầm to.
137) Khôn ngoan đối đáp người ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
138) Chuyện đời nghĩ cũng nực cười,
Một con cá lội mấy người buông câu.
139) Khi ăn thì phải lựa mùi,
Khi nói thì phải lựa lời chớ sai.
140) Lời lành cửa Phật truyền soi,
Ðọc qua suy nghiệm xét coi chánh tà.
141) Không có đàn bà xấu,
Chỉ có đàn bà không biết làm cho mình trở thành quyến rũ mà thôi.
142) Thức lâu mới biết đêm dài,
Ở lâu mới biết là người có nhân.
143) Thử đem ngọc tốt ra bùn,
Ngọc kia vẫn trắng luôn luôn chẳng mờ.
144) Xa xôi em chớ ngại ngùng,
Xa người, xa tiếng nhưng lòng không xa.
145) Khổ đà đi đến như tên,
Ráng lo tu niệm tìm nền Vinh Hoa.
146) Khôn ngoan đến cửa quan mới biết,
Giàu có ba mươi tết mới hay.
147) Cây khô xuống nước cũng khô,
Phận nghèo đi tới chỗ mô cũng nghèo.
148) Gia đình trên thuận dưới hoà,
Quý hơn tiền của ngọc ngà muôn xe.
149) Khi vui thì vỗ tay vào,
Ðến khi hoạn nạn thì nào thấy ai.
150) Lời lành của Phật truyền soi,
Ðọc qua suy nghiệm xét coi chánh tà.
151) Tất cả hoa quý trên đời,
Không rực rỡ bằng nụ cười của Mẹ.
152) Làm trai quyết chí tang bồng,
Sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam.
153) Nước giữa đồng chê trong chê đục,
Vũng trâu đầm hì hục khen ngon.
154) Cây cao thì gió càng lay,
Càng cao danh vọng, càng dày gian nan.
155) Hoa thơm nhờ hương nhụy,
Người có giá trị nhờ đạo đức tác phong.
156) Càng thắm thì lại càng phai,
Thoang thoảng hoa lài, càng được thơm lâu
157) Ở nhà nhất mẹ, nhì con,
Ra đường, chán vạn kẻ dòn hơn ai!
158) Nước lạnh phải đến giếng,
Nước nóng phải hâm sôi
159) Bộ binh, bộ hộ, bộ hình,
Ba bộ đồng tình, bóp vú con tôi.
160) Có chí thì nên.
161) Năng nói năng vấp.
Trên kính dưới nhường.
162) Ðói cho sạch, rách cho thơm.
163) Giấy rách phải giữ lấy lề.
164) Có học phải có hành.
165) Chết trong hơn sống đục.
166) Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
167) Lấy của che thân,
Ðừng lấy thân che của
168) Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
169) Ở chọn nơi, chơi chọn bạn.
170) No mất ngon, giận mất khôn.
171) Ðừng nên trọng của hơn người.
Học thầy chẳng tầy học bạn.
172) Tiền bạc như nước thủy triều.
173) Của phù vân không chân mà chạy.
174) Của rề rề, không bằng một nghề trong taỵ.
175) Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.
176) Tín Phật đãi nhân, nhân kính trọng.
Chớ thấy sóng cả mà ngao tay chèo.
177) Lửa thử vàng, gian nan thử đức.
178) Vỏ quít dầy có móng tay nhọn.
179) Ði một đàng học một sàng khôn.
180) Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
181) Miếng ngon nhớ lâu, lời đau nhớ đời.
182) Người đi đầu cúi vai vùng,
Trong dạ độc hiểm chớ cùng thâm giao.
183) Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối
184) Thương nhau lắm, cắn nhau đau
185) Nói trăm thước không bằng bước một gang.
186) Ghét của nào trời trao của đó.
187) Uống nước nhớ kẻ đào giếng.
188) Biết thì thưa thốt,
Không biết thì dựa cột mà nghe
189) Dù xây chín bậc phù đồ,
Không bằng làm phúc cứu cho một người
190) Non cao cũng có đường trèo,
Ðường dầu hiểm nghèo cũng có lối đi
191) Thương thì quả ấu cũng tròn,
Không thương thì bồ hòn cũng méo
192) Chim khôn lựa cây mà đậu
Người khôn kết nghĩa bạn hiền
193) Làm trai chí ở cho bền
Ðừng lo muộn vợ, chớ phiền muộn con
194) Ðạo đời hai lẽ nào hơn
Con người quân tử chớ sờn dạ tu
195) Có người làm ác nhãn tiền
Mau thì mình chịu, lâu thì cháu con
196) Khoan hòa mà chẳng kiêu căng
Tiếng người quân tử vang lừng gần xa
197) Ðừng nói học ngày nay chẳng gấp
Ðợi ngày mai học tập cuong xong
198) Hoa thơm mất nhụy đi rồi
Còn thơm đâu nữa mà người ước ao
199) Ðường tu nếu gặp chơn sư dạy
Một kiếp gia công ắt được thành
200) Lời thánh hiền để lại biết bao
Sao trai gái chẳng coi mà sửa
201) Thương ai bằng mẹ thương con
Nhớ ai bằng gái còn son nhớ chồng
202) Giúp đời đừng đợi trả ơn
Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng
203) Tu là sửa đổi tinh thần
Tu cho giải thoát được thân thanh nhàn
204) Cơm ăn mỗi bửa một lưng
Hơi đâu mà giận người dưng thêm phiền
205) Tín Phật đãi nhân, nhân kính trọng
Tự khi khi nhân sự vô thành
206) Ôi ! Cả sang hèn chẳng ai thong thả
Sao nhân sanh cứ mãi đắm say
207) Bây giờ chưa biết vàng thau
Ðời sau kính trọng người cao tu hành
208) Lòng của trời siêu vi huyền ảo
Lòng con người điên đảo ngả nghiêng
209) Tiên, Phật thường khuyên tu giải thoát
Dọn mình trở lại cảng tiêu dao
210) Tuy tu hành chịu chữ nghèo nàn
Sau đắc đạo gặp điều cao quý
211) Trời nào có phụ ai đâu
Hay làm thì giàu có chí thì nên
212) Ai thương ai ghét mặc tình
Phận mình cứ giữ tâm mình thật ngay
213) Dương trần phải ráng làm hiền
Ðừng trọng bạc tiền bỏ nghĩa bỏ nhân
214) Một lời hưng thịnh quốc gia
Một lời nói quấy nước nhà suy vong
215) Gặp tay kiếm khách âu bàn kiếm
Chẳng phải thi nhân chớ tặng thi
216) Học cao không muốn tranh giành
Những người học ít ưa sanh sự phiền
217) Làm gì nên nghĩ trước, nói phải dò việc sau
Ðức thường giữ vững được, hứa hẹn chẳng sai đâu
218) Trời xanh con nước cũng xanh
Ðố ai biết được nhân tình éo le
219) Khi tu đừng giận chớ hờn
Ðể tâm thanh tịnh cho hồn thoát siêu
220) Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu
221) Lòng người mới thật hiểm sâu,
Chỉ trong gang tấc biết đâu mà lường.
222) Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.
223) Sông sâu sào ngắn khôn dò,
Người khôn ít nói khó đo tấc lòng.
224) Thay quần thay áo, thay hơi
Thay dáng, thay dấp nhưng người không thay
225) Tóc quăn chải lược đồi mồi,
Chải đứng, chải ngồi quăn vẫn hoàn quăn.
226) Lúc nghèo thì chẳng ai nhìn,
Ðến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.
227) Còn tiền kẻ rước người mời,
Hết tiền chẳng thấy một người nào ưa.
228) Loa miệng thì nói nam mô,
Trong lòng thì đựng một bồ dao găm.
229) Làm người suy chính, xét xa,
Cho tường gốc ngọn cho ra vắn dài.
230) Xin đừng ghẹo gái có chồng
Cũng đừng phá hoại vợ chồng người ta
231) Trời nào có phụ ai đâu
Hay làm thì giàu có chí thì nên
232) Nước lã mà vỗ nên hồ
Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan
233) Có cha mẹ mới có ta
Làm nên là bởi mẹ cha vun trồng
234) Học cao không muốn tranh giành
Những người học ít ưa sanh sự phiền
235) Lời thật mất lòng.
236) Gần lửa, rát mặt.
237) Ai làm nấy chịu.
238) Chợ có lề, quê có thói
239) Nhịn miệng đãi khách.
240) Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
241) Ði hỏi già, về nhà hỏi trẻ.
242) Buôn có bạn, bán có phường.
243) Nói có sách mách có chứng.
244) Một sự nhịn là chín sự lành.
245) Khó nhịn miệng, mồ côi nhịn lời
246) Ðường mòn nhân nghĩa không mòn.
247) Con sâu làm rầu nồi canh.
248) Một điều nhịn, chín điều lành.
249) Giọt máu đào hơn ao nước lã.
250) Nhập gia tùy tục,
Nhập giang tùy khúc.
251) Biết người biết ta
Trăm trận trăm thắng.
252) Xin đừng ghẹo gái có chồng
Cũng đừng phá hoại vợ chồng người ta
253) Ơn ai một chút dễ quên,
Oán ai một chút để bên dạ này.
254) Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu
255) Ðo sông đo bể khó đo lòng người.
256) Ði một ngày đàng, học một sàng khôn.
257) Trâu ta ăn cỏ đồng ta
Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm.
258) Thức đêm mới biết đêm dài,
Ở lâu mới biết con người phải chăng.
259) Ai ơi chớ vội cười nhau,
Cười người hôm trước hôm sau người cười
260) Khó giúp nhau mới thảo
261) Có nghèo mới biết con hiếu,
Có thiếu mới biết bạn hiền.
262) Bỏ thì thương, vương thì tội !
263) Anh đi đường ấy xa xa,
Ðể em ôm bóng trăng tà năm canh.
264) Nước non một gánh chung tình,
Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng?
265) Bến em có gốc dừa tơ,
Ðêm trăng em đứng em chờ đợi ai.
266) Chàng về để áo lại đây,
Phòng khi em nhớ, cầm tay đỡ buồn.
267) Thương nhau mấy núi cũng trèo,
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
268) Bắc thang lên hái hoa vàng,
Vì ai cho thiếp biết chàng từ đây!
269) Chẳng tham vựa lúa anh đầy,
Tham năm ba chữ cho tầy thế gian.
270) Yêu nhau chẳng quản lầm than,
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.
271) Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,
Như đứng đống lửa, như ngồi đống than !
272) Ai về ai ở mặc ai,
Thiếp như sầu đượm thắp hoài năm canh.
273) Ðêm đêm tưởng dạng Ngân-hà,
Bóng sao tinh đẩu đao ba năm tròn,
Ðá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào-khê nước chảy lòng còn trơ trơ
274) Cô kia cắt cỏ một mình,
Cho anh cắt với chung tình làm đôi.
Cô còn cắt nữa hay thôi,
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng.
275) Ai đi đâu đấy hỡi ai ?
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm.
Tìm em như thể tìm chim,
Chim bay biển Bắc, đi tìm biển Ðông.
276) Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại,
Bắt anh ra treo tại nhành dương.
Biểu từ ai, anh từ đặng,
Chớ biểu anh từ người thương, anh không từ.
277) Yêu nhau thì ném miếng trầu,
Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra.
Yêu nhau cau bổ làm ba,
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
278) Anh đã có vợ hay chưa
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào
Mẹ già anh ở nơi nao
Ðể em tìm vào hầu hạ thay anh
279) Ðường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông
Nguyễn Bá Học
280) Thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vua đất Bắc
Trần Bình Trọng
281) Yêu giống nòi mình lầm than mãi rồi
Yêu khiến lòng chẳng biết sao nguôi
Du Ca
282) Cái vòng danh lợi cong cong,
Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào.
283) Sự đời nghĩ cũng nực cười :
Một con cá lội, mấy người buông câu.
284) Tiên học lễ, hậu học văn.
(Trước học lễ, nghĩa; sau mới học văn-chương).
285) Huynh đệ như thủ túc.
(Anh em như chân tay)
286) Ðại phú do Thiên, tiểu phú do cần.
(Giầu to do Trời, giầu nhỏ do cần-kiệm).
287) Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên.
(Con người mưu toan, Trời định sự thành, bại).
288) Nam thực như hổ, nữ thực như miêu.
(Con trai ăn như hổ, con gái ăn như mèo.
289) Tiểu bất nhẫn tất loạn đại mưu
(Không nhịn việc nhỏ thì loạn mưu to).
290) Thượng bất chính, hạ tắc loạn.
(Trên không ngay thẳng, dưới sẽ làm bậy.
291) Thiên bất dung gian.
(Trời không tha kẻ làm bậy.)
292) Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí.
(Việc lành không đến hai lần, việc dữ không đến một mình.)
293) Tri túc đãi túc, hà thời túc,
Tri nhàn đãi nhàn, hà thời nhàn.
(Biết thế nào là đủ, thì sẽ thấy đủ,
Biết thế nào là nhàn, thì sẽ thấy nhàn.)
294) Hổ phụ sinh hổ tử.
(Cha là cọp, sinh con là cọp.)


