Monday, May 5, 2008

Tào Tháo


Nói tới Tào Tháo, người đọc Tam Quốc diễn nghĩa hẳn nhớ hình ảnh của ông như một kẻ tài giỏi nhưng gian trá, đa nghi. Những điều đó có thể có thực vì suy cho cùng, Tào Tháo là một nhà chính trị ở một quốc gia mà trong việc tranh bá đồ vương, người ăn thịt người là chuyện bình thường. Nhưng nhìn nhận một cách khách quan thì Tào Tháo là nhân vật tài giỏi nhất thời Tam Quốc, văn võ toàn tài, trị dân giỏi. Nếu so sánh với các vị vua sáng nghiệp khác của Trung Quốc thì Hán Cao Tổ cũng trí trá nhưng kiểu bịp bợm và lưu manh, Tống Thái Tổ thì mờ nhạt, may nhờ thời vận, Minh Thái Tổ thì cũng không khác với Hán Cao Tổ là mấy, đến bọn cùng thời Lưu Bị, Tôn Quyền thì lại càng kém xa vậy. Xem ra chỉ còn có Đường Thái Tông, có lẽ là vị vua tài giỏi nhất trong toàn bộ lịch sử 5000 năm của Trung Quốc, là có thể so sánh được với Tào Tháo (tất nhiên công nghiệp của Đường Thái Tông vượt xa Tào Tháo, nhưng đó là chuyện khác).

Về võ nghiệp thì Tào Tháo không những thống nhất phương Bắc mà còn đánh tan người Khương, người Hung Nô, và dùng chính sác ngoại giao mềm dẻo để ổn định biên giới. Nhưng cũng có người cho rằng chính vì họ Tào không cương quyết trong cuộc tranh đấu với các tộc Hồ thành ra dị họa sau này, tới thời Tây Tấn, mới xảy ra hiện tượng Ngũ Hồ loạn Hoa.

Về văn học thì Tào Tháo cũng rất xuất sắc. Cùng với hai con là Tào Thực và Tào Phi tạo thành Tam Tào, ba nhà thơ xuất sắc nhất thời Tam Quốc. Thơ Tào Tháo hào sảng, đầy khí phách của một kẻ hùng tài, đảm lược, các bài thơ thường làm theo lối “hành”. Nhặt lấy 3 bài thơ của Tào Tháo trên trang annonymous.fr.

Portrait of Cao Cao by unknown artist

(hình trên wikipedia)

Đoản ca hành kỳ 1 (bài này có được nhắc tới trong Tam Quốc, đoạn trong trận Xích Bích)

Đối tửu đương ca,
Nhân sinh kỷ hà:
Thí như triêu lộ,
Khứ nhật khổ đa.
Khái đương dĩ khảng,
Ưu tư nạn vong.
Hà dĩ giải ưu:
Duy hữu Đỗ Khang.
Thanh thanh tử câm,
Du du ngã tâm.
Đãn vi quân cố,
Trầm ngâm chí kim.
U u lộc minh,
Thực dã chi tần.
Ngã hữu gia tân,
Cổ sắt xuy sinh.
Hạo hạo như nguyệt,
Hà thời khả chuyết ?
Ưu thung trung lai,
Bất khả đoạn tuyệt.
Việt mạch độ thiên,
Uổng dụng tương tồn.
Khế khoát đàm yến,
Tâm niệm cựu ân.
Nguyệt minh tinh hy,
Ô thước nam phi,
Nhiễu thụ tam tạp,
Vô chi khả y.
Sơn bất yếm cao,
Thuỷ bất yếm thâm.
Chu Công thổ bộ,
Thiên hạ quy tâm.

Bài hát ngắn kỳ 1 (Người dịch: Lệ Chi Sơn). Bản dịch này tớ không thích bằng bản dịch của Phan Kế Bính trong Tam Quốc, không hiểu sao các bản Tam Quốc trên Internet bây giờ đều tóm tắt, bỏ hết thơ phú trong đó).

Trước ly rượu ta nên ca hát
Một đời người thấm thoát là bao ?
Khác chi mấy hạt sương mai,
Ngày qua sầu tủi hỏi ai không buồn ?
Vụt đứng dậy, lòng thêm khảng khái
Nhưng cái buồn đeo mãi không tha
Giải sầu chỉ một chăng là
Mượn đôi ba chén cửa nhà Đỗ Khang
Tuổi đi học, áo xanh cổ cứng
Mà lòng ta bịn rịn hôm mai
Nhưng thôi nhắc mãi làm chi
Tuổi xanh quá vãng vì mi ta buồn
Con hươu lạc kêu trên đồng vắng
Chân ngẩn ngơ mồn gặm cỏ non
Nhà ta khách quý rộn ràng
Đàn ca sáo phách bập bùng thâu đêm
Mảnh trăng nọ treo trên trời rộng
Biết bao giờ hết sáng ngàn cây ?
Nỗi buồn ập đến ai hay
Lòng ta vương vấn khi đầy khi vơi
Xông pha mãi một đời gió bụi
Uổng công ta lui tới đeo đai
Bi hoan ly hợp một đời
Mong người tri kỷ đứng ngồi chẳng an
Trăng vằng vặc sao ngàn thưa thớt
Quạ về nam thảng thốt kêu thương
Liệng quanh cây những mấy vòng
Mà không tìm được một cành nương thân
Chẳng quản ngại ta tìm tri kỷ
Dù núi cao, biển cả sâu nông
Một đời nghiền ngẫm Chu công
Làm sao thiên hạ dốc lòng về ta.

.

Hao lý hành



Quan Đông hữu nghĩa sĩ,
Hưng binh thảo quần hung;
Sơ kỳ hội Mạnh Tân,
Nãi tâm tại Hàm Dương;
Quân hợp lực bất tề,
Trù trừ nhi nhạn hành;
Thế lợi sử nhân tranh,
Tự hoàn tự tương tường;
Hoài Nam đệ xưng hiệu,
Khắc tỷ ư bắc phương;
Khải giáp sinh kỷ sắt,
Vạn tính dĩ tử vong;
Bạch cốt lộ ư dã,
Thiên lý vô kê minh;
Sinh dân bách di nhất,
Niệm chi nhân đoạn trường.

Bài ca về làng Hao (Người dịch: Nguyễn Bích Ngô)


Quan Đông có nghĩa sĩ,
Dấy binh dẹp nhiễu nhương.
Bắt đầu họp Mạnh Tân
Lòng vẫn ở Hàm Dương.
Quân hợp sức không đều
Ngần ngừ rồi chia đường.
Thế lợi bắt người tranh
Giết nhau co như thường.
Hoài Nam em xưng đế
Khắc ấn ở Bắc phương.
Giáp trụ sinh chấy rận,
Muôn dân bị tử thương!
Xương trắng phơi ngoài nội
Tiếng gà vắng dặm trường
Trăm người còn sống một,
Ai nghĩ chẳng đoạn trường.

Khổ hàn hành

Bắc thượng Thái Hàng sơn,
Nam tai hà nguy nguy!
Dương trường bang khúc chuyết.
Xa luân vị chi tồi,
Thụ một hà tiêu sắt!
Bắc phong thanh chính bi.
Hùng bi đối ngã tôn.
Hổ báo hiệp lộ đề.
Khê cốc thiểu nhân dân,
Tuyết lạc hà phi phi,
Diêu canh trường thán tức
Viễn hành đa sơ hoài
Ngũ tâm hà phẫn uất ?
Tá dục nhất đông quy.
Thủy thâm cảo lương tuyệt.
Trường lộ chính bồi hồi.
Mê hoặc thất cố lộ,
Mạc mộ vô túc lâu.
Hành nhật dĩ viễn chí.
Nhân mã đồng thời cơ.
Đảm nang thành thủ tân,
Phụ băng trì tác mễ.
Bi bi "Đông Sơn" thị,
Du du linh ngã ai!

Khổ hàn hành

Phía Bắc Thái Hàng sơn,
Vòi vọi lên gian nan.
Đường ruột dê uống khúc,
Làm bánh xe vỡ tan.
Cây cối sao hiu hắt.
Gió bắt rít trên ngàn.
Gấu ngồi xổm ngó khách;
Hổ bên đường gầm vang.
Tuyết rơi sao phơi phới,
Hang hốc ít nhân dân,
Đi xa dạ ngùi ngùi.
LÒng ta sao buồn bực
Về đông mong tới ngày.
Nước sâu cầu lại gãy.
Giữa đường dạ bồi hồi.
Mê hoặc quên đường cũ
Tối mịt trọ nhà ai ?
Đi ngoài bao ngày tháng,
Đói cả ngựa lẫn người.
Quảy gói đi kiếm củi,
Lấy gia để thổi cơm.
Dằng dặc một nỗi buồn...

No comments: